Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của người lái đò - Bài 4

Gửi bởi: Nguyễn Thị Vân vào ngày 2019-11-28 06:47:27 || Kiểu file: DOCX

Nội dung tài liệu Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Loading...

Thông tin tài liệu

Vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của người lái đò – Bài 4
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đ ời đi tìm cái đ ẹp. Ông cũng là
một nghệ sĩ tài hoa, uyên bác, có cá tính độc đáo. Nguyễn Tuân sáng tác nhiều th ể lo ại nh ưng
đặc biệt thành công ở tùy bút. Tác phẩm này được in trong tập tùy bút Sông Đà, xuất bản lần
đầu năm 1960, tất cả gồm mười lăm bài tùy bút. Thực tiễn xây dựng cu ộc s ống m ới ở vùng
cao đã đem lại cho tác giả nguồn cảm hứng sáng tạo để viết nên thiên tùy bút đặc sắc này
nhằm ca ngợi những người lao động mới đang cống hiến cho công cuộc tái thiết, dựng xây
đất nước.
Tuỳ bút Người lái đò sông Đà được in trong tập tuỳ bút “ Sông Đà”, gồm 15 bài tuỳ bút và
một bài thơ ở dạng phác thảo. Tác phẩm được viết trong thời kì xây d ựng CNXH ở mi ền
Bắc. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chi ến ch ống
Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác
nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới
ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo. Ngoài phong c ảnh Tây Bắc uy
nghiêm, hùng vỹ và tuyệt vời thơ mộng, Nguyễn Tuân còn phát hiện những điểm quý báu
trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được th ử l ửa, là ch ất vàng m ười
của tâm hồn Tây Bắc.”
Trước hết, Người lái đò sông Đà là một hình tượng về người lao động mới trong giai đoạn
kiến thiết và dựng xây đất nước. Trong cuộc chiến với thiên nhiên khốc liệt, ông lái đò đã bộc
lộ tất cả khả năng tuyệt vời của mình, nhất là sự tài trí và lòng dũng cảm. Ý kiến thứ hai lại
chú ý đến sự gần gữi, thân quen, dễ đi vào lòng người của ông lái đò. Ông lái đò được miêu tả
như một người lao động kiên cường lại vừa như một nghệ sĩ tài hoa c ủa s ống n ước, r ất m ực
điệu nghệ trong công việc của mình. Thế nhưng sau cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên dữ
dội, họ trở về với cuộc đời thường “giản dị và bình tâm”, hòa lẫn vô danh vào tri ệu tri ệu con
người đang “đi tới” với đôi tay như “đôi cánh bay lên” và bàn chân mạnh mẽ “đạp bùn không
sợ cá loài sên”. Người lái đò trong tác phẩm là một người lao động vô danh, làm lụng âm
thầm, giản dị, nhờ lao động mà chinh phục được dòng sông dữ, trở nên lớn lao, kì vĩ, tr ở
thành đại diện của con người. Người lao động nhờ ý chí kiên cường, bền bỉ, quyết tâm mà
chiến thắng sức mạnh thần thánh của thiên nhiên. Đó chính là yếu tố làm nên chất vàng mười
của nhân dân Tây Bắc.
Người lái đò có một trí nhớ tuyệt vời về những luồng nước và những con thác hi ểm tr ở.
Ông lái đò “đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá. Ông đã thu ộc qui lu ật ph ục kích
của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”, “nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước sông
Đà” nên trước thác ghềnh hung bạo, ông vẫn bình tĩnh điều khiển thuyền an toàn. S ở dĩ ông
lái đò có sự hiểu biết sâu sắc cùng với những kinh nghiệm quý báu là do ông đã xuôi ng ược
nhiều lần trên sông Đà. Ống lái đò là người thích phiêu lưu mạo hiểm. Vì vậy tác giả đã chú ý
miêu tả cuộc chiến đấu của người lái đò với sóng nước sông Đà. Trong cu ộc chi ến đấu v ượt
qua bao vòng vây của thác ghềnh hung bạo, người đọc đã thấy đ ược s ự dũng c ảm, m ưu trí và
điêu luyện, thuần thục trong việc điều khiển con thuyền của người lái đò.Vòng vây này đ ược
tác giả miêu tả dài nhất. Người lái đò phải đối mặt cùng “sóng bọt đã trắng xóa cả một chân
trời đá” với những hòn đá hung hãn, ngỗ ngược đang mai phục từ ngàn năm nay ch ực ch ờ

“nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”. Đá dàn bày thạch trận “ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn
chết cái thuyền” với hàng tiền vệ “giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa” cho
tuyến hai “đánh khuýp quật vu hối lại”, nếu thoát qua thì đã có tuy ến ba g ồm bao nhiêu
“boong-ke chìm và pháo đài nổi” quyết tâm “phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ
ngay ở chân thác”.
Có những hòn đá được nhà văn miêu tả hệt như những tên tướng giặc kiêu căng hợm hĩnh
phối hợp cùng “nước thác reo hò” như một đội quân liều mạng đầy sát khí s ẵn sàng ùa vào
mà “bẻ gãy cán chèo” của người lái đò, mà “thúc gối vào bụng và hông thuyền”, “đội cả
thuyền lên”, nhằm vào chỗ hiểm tấn công liên tiếp với lối “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh
đòn âm”. Cảnh tượng lúc bấy giờ cũng thật tráng lệ khi trong khoảng khắc mặt sông “lòa
sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng”. Đ ối diện v ới
hiểm nguy, người lái đò vẫn hết sức bình tĩnh, hiên ngang như một tướng soái phóng thẳng
thuyền vào kẻ thù. Trước những đòn thủ tàn độc của đối phương ông đã “c ố nén v ết th ương,
hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái”, “giữ mái chèo khỏi bị hất lên” và trên chiếc thuy ền sáu
bơi chèo, người ta vẫn nghe thấy “tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo c ủa ng ười cầm lái” đang
sẵn sàng đối mặt, chiến đấu và chiến thắng lũ giặc đá đông đảo, đầy chủ động, hiểm ác, ranh
ma.
Nếu như ở vòng vây thứ nhất sông nước nham hiểm đã mở ra bốn cửa tử, một c ửa sinh,
cửa sinh lại nằm “lập lờ ở phía tả ngạn con sông” thì ở vòng vây thứ hai này, sông Đà đã mở
thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền và cửa sinh lại “bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn”.
Ghê gớm hơn, đang chờ đón ông chính là “dòng hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”
với “bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập
đoàn cửa tử”. Người lái đò tỏ ra không hề sợ hãi bởi vì ông vốn giàu kinh nghi ệm và nắm
chắc qui luật hoạt động của nước thác cũng như địa hình nơi đây. Th ật táo b ạo, v ới đôi bàn
tay linh hoạt, tài hoa của mình ông đã khéo léo điều khiển con thuyền “bám chắc lấy lu ồng
nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy”.
Ông lái đò lúc “cưỡi lên thác”, lúc “nắm chặt được cái bờm sóng”, lúc thì “ghì c ương lái”, lúc
thì ống tránh mà “rảo bơi chèo lên”, lúc thì “đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”.
Cuối cùng, ông đã chiến thắng cái lũ đá lúc này đang “tiêu ngh ỉu cái m ặt xanh lè” vì th ất
vọng. Vòng vây thứ ba nguy hiểm hơn cả bởi vì “bên phải bên trái đều là luồng chết cả”, cái
luồng sống ở vòng vây này lại “nằm ngay giữa bọn hậu vệ của con thác”. Nhưng ống lai đò
cứ anh dũng phóng thẳng thuyền, chọc thủng vào cửa giữa đó. Người lái đò rất linh hoạt điều
khiển “thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép”, qua bao nhiêu cửa “thuyền như một mũi
tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”.
Trước thác ghềnh hung bạo, ông lái đò dũng cảm, táo b ạo, li ều lĩnh, th ế nh ưng khi v ượt
qua thì tất cả đều trở thành bình thường “sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Tác giả đã miêu
tả phong thái ung dung của những người lái đò khi họ “đót lửa trong hang đá, n ướng ống c ơm
lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá đầm xanh… cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào v ề
cuộc chiến thắng vừa qua”. Cuộc sống của họ thường nhật phải đối diện với thiên nhiên
khốc liệt, “ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống t ừ
tay những cái thác” cho nên với họ tất cả đều “không có gì là hồi hộp đáng nhớ”. H ọ đã chiến

thắng trong cuộc chiến không cân sức với thiên nhiên nhờ kinh nghiêm, s ự ngoan cường, ý chí
quyết tâm. Tất cả những điều đó đã đưa họ đến thắng lợi huy hoàng, tô đậm cho khúc tráng
ca về sự nghiệp lao động vinh quang của con người mới.
Hai ý kiến đúng, đã bổ sung cho nhau để hợp thành sự nhìn nhận toàn diện và thống nhất
về ý nghĩa của hình tượng này; giúp người đọc nhận thức sâu sắc hơn về giá tr ị nội dung tư
tưởng của tác phẩm, cũng như thấm thía hơn ý tưởng nghệ thuật của nhà văn. Nhà văn đã tô
đậm vẻ đẹp của nhân vật với những so sánh, ví von, liên tưởng độc đáo, bất ngờ và rất thú bị;
tư tưởng phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao; câu văn đa d ạng, nhi ều
tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả gân guốc, khi thì chậm rãi trữ tình. Khi kh ắc h ọa hình
tượng này, Nguyễn Tuân có ý thức tạo nên tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ rõ
phẩm chất của mình. Nhà văn tiếp cận con người trên phương diện tài hoa ngh ệ sĩ nên m ỗi
nhân vật trong tác phẩm của ông đều là những nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình.
Với sự quan sát tinh tường; trí tưởng tượng phong phú; những liên tưởng, so sánh b ất ng ờ,
độc đáo kết hợp cùng vốn kiến thức uyên bác, ngòi bút tài hoa và nh ững c ảm xúc d ạt dào, say
đắm thiết tha danh cho đất nước; Nguyễn Tuân đã tạo nên một áng văn trác tuyệt tác ngợi ca
vẻ đẹp của con người và thiên nhiên Tây Bắc trong ngày mới dựng xây. Đó đều là chất vàng
mà tác giả tìm kiếm và khai phá; lấp lánh, sáng ngời quí giá nh ư chính g ương m ặt c ủa tác gi ả
trong lịch sử văn học nước nhà.
Qua Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc hoạ những nét
thơ mộng, hùng vĩ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà
hung bạo và trữ tình. Đồng thời, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, s ự tài ba trí
dũng của con người lao động mới: chất vàng mười của đất nước trong xây d ựng CNXH qua
hình ảnh người lái đò sông Đà. Từ đó nhà văn ca ngợi sông Đà, núi r ừng Tây B ắc v ừa hùng vĩ
vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắc cần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài hoa.