Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Văn mẫu: Muốn làm thằng Cuội

Gửi bởi: Nguyễn Thị Ngọc vào ngày 2019-10-28 04:26:24

Mục lục
* * * * *

Phân tích bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà

 Tản Đà là tài năng văn học lớn của Việt Nam, ông là gạch nối giữa văn học trung đại và hiện đại. Muốn làm thằng cuội thể hiện tâm trạng chán nản, bất hòa sâu sắc với thực tại tầm thường, muốn thoát li vào thế giới mộng tưởng của tác giả. Đồng thời bài thơ cũng thể hiện những cách tân mới mẻ, táo bạo trong sáng tác của ông.

   Nhan đề bài thơ vô cùng đặc sắc, tác giả sử dụng từ “muốn” thể hiện khát khao chuyển đổi không gian sống và muốn hóa thân thành người khác, cụ thể ở đây là thành chú Cuội. Ngay từ nhan đề đã cho thấy cái tôi ngông nghênh và đa tình của nhà thơ. Một ước muốn xa vời những hết sức thực tế vì tác giả muốn thoát khỏi thực tại tầm thường, thấp kém.

   Ngay từ câu thơ đầu tác giả đã bộc lộ nỗi buồn chán:

   Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi

   Trần thế em nay chán nửa rồi.

   Thực tại tầm thường, giả dối tác giả không biết tâm sự cùng ai đành tìm đến chị Hằng để giãi bày nỗi lòng của mình. Điều đó cho thấy sự cô đơn, lạc lõng của ông giữa cuộc đời. Đêm thu – thời điểm khơi gợi nỗi buồn trong những tâm hồn nhạy cảm – bởi vậy cõi lòng nhà thơ càng trở nên trống trải, cô đơn hơn. Không chỉ buồn, sầu, cô đơn Tản Đà còn gửi cả vào câu thơ sự chán chường với cuộc đời. Ở câu thơ tác giả đã thể hiện trực tiếp cái cô đơn của bản thân, điều này vốn rất ít khi được thể hiện trong văn học trung đại. Tản Đà đã phá vỡ quy tắc của thơ ca cổ điển, thể hiện trực tiếp tình cảm cá nhân, đây chính là điểm mới mẻ trong thơ ông.

   Chính bởi cuộc sống tầm thường nên tác giả có ao ước được thoát li cuộc đời trần thế. Cách thoát li thực tế của Tản Đà hết sức đặc biệt: muốn lên cung trăng làm bạn với chị Hằng. Câu hỏi thăm dò dường như chỉ là cái cớ: Cung quế đã ai ngồi đó chửa?, không chần chờ, không đợi câu trả lời của chị Hằng, ông đã đề nghị: “Cành đa xin chị nhắc lên chơi”. Cuộc đối thoại trong mộng tưởng của Tản Đà thật thơ mộng và tình tứ. Đồng thời thể hiện cái tôi ngông ngạo của ông.

   Đẩy trí tưởng tượng của mình đi xa hơn một bước, tác giả tưởng tượng cảnh mình được ngồi ở cung quế trò chuyện vui đùa cùng chị Hằng. Nơi ấy tác giả thoát khỏi nỗi sầu, nỗi cô đơn vì đã có chị Hằng làm bạn: “Có bầu có bạn can chi tủi/ Cùng gió, cùng mây thế mới vui”. Những hình ảnh gió mây làm cho tâm hồn tác giả càng thêm bay bổng, lãng mạn hơn. Cái ngông của Tản Đà được thể hiện trong nguyện ước được thả hồn cùng gió mây để ngao du trong trời đất.

   Hai câu thơ cuối thể hiện nguyện ước được mãi mãi ở nơi cung quế của tác giả. Các chữ “cứ mỗi năm” diễn tả dòng thời gian lặp đi lặp lại thể hiện mơ ước không muốn rời xa nơi đây. Và ở cung quê ông cùng chị Hằng “Tựa nhau trông xuống thế gian cười”, nụ cười của ông có thể hiểu theo nhiều ý nghĩa: cười bởi không thể thỏa mãn được khát vọng thoát li, xa lánh cõi trần gian hay cười vì mỉa mai, khinh bỉ cõi đời xô bồ, đen tối, ngột ngạt. Dù hiểu theo cách nào thì đó cũng thể hiện nỗi sầu của kẻ chán ghét và muốn thoát li thực tại.

   Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, tuân thủ quy tắc về niêm luật nhưng không công thức, gò bó. Ý thơ phóng khoáng, tự do, bay bổng, mang đậm dấu ấn cá nhân. Thủ pháp đối lập cũng được vận dụng tài tình.

   Qua bài thơ, Tản Đà đã gửi gắm nỗi niềm tâm sự của một nguời bất hòa sâu sắc với thực tại xã hội lúc bấy giờ, mong muốn thoát li vào cõi mộng tưởng. Bài thơ hấp dẫn ở giọng thơ ngông ngạo, trí tưởng tượng phong phú, cảm xúc mãnh liệt, bay bổng lại cùng vô cùng thiết tha, sâu lắng.

Cảm nhận về bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà

 Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889 - 1939) là gương mặt đặc biệt trên thi đàn Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX, người đã mang đến một làn gió lạ cho thơ ca Việt Nam, với cái ngông nghênh khinh bạc của nhà Nho cuối cùng và người tiên phong cho thi ca vào con đường chuyên nghiệp. Tình say, ý lạ, tứ mới chưa làm nên một Tản Đà, mà điều chủ yếu là sự thành thực tự nhiên trong cảm xúc, ngay cả khi thi nhân chìm đắm vào cõi mộng. Những "khối tình", những "giấc mộng" làm nên một phần văn nghiệp Tản Đà. Muốn làm thằng Cuội là một sự kết hợp của mộng và tình, để ta nhận rachân dung của con người dám lấy cái ngông như một sự thách thức với cuộc đời ô trọc.

   Tản Đà đã có vinh dự là người "dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tần kì đang sắp sửa" (Hoài Thanh, Hoài Chân — Thi nhân Việt Nam). Cung bậc của tiếng đàn ấy là của một tâm hồn phóng túng không bị câu thúc trong lối văn trường ốc, có cái bay bổng của vị "trích tiên" tự coi mình là người lạc bước chốn trần gian, Thơ Tản Đà có một không gian riêng với Tây Thi, Dương Quý Phi, Chức Nữ, Hằng Nga, những giai nhân "hồng nhan tri kỉ" với khách tài tử phong lưu, Người đời đã cho Tản Đà là "ngông", nhưng cần phải hiểu đó cũng chính là thái độ của ông phản ứng lại xã hội thực dân phong kiến vốn có quá nhiều điều khiến ông chán ngán buồn bực. Muốn làm thằng Cuội chính là một phản ứng như vậy.

   Dường như đối với Tản Đà, mùa thu cũng tạo nên nhiều duyên nợ. Từ khoảnh khắc "Vèo trông lá rụng đầy sân" để nhận ra công danh như một thoáng chốc, đến đêm thu chìm đắm trong mối sầu, thi nhân đã để cho những tâm tình bộc bạch cùng trời đất:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi.

   Lại một đêm thu, lần này nhà thơ tìm đến với "chị Hằng". Mà lạ, không phải với cái cuồng vọng đòi cưới Hằng Nga mà lại là một chút khép mình xưng "em" rất ngọt! Cậu ấm Hiếu đã mỏi mệt với những muộn phiền trần thế, nên thở ra một giọng chán đời chăng? Cái buồn cố hữu của mùa thu khiến nhà thơ buồn, hay ánh trăng đối diện với con người gợi ra cảm giác lẻ loi đến mênh mông? Tản Đà đã đến với trăng không phải bằng tư thế "đối diện đàm tâm" - nhìn nhau chuyện trò trong im lặng bằng sự cảm thông của đôi lòng, ông đã thốt lên Lời tha thiết nhắn nhủ "chị Hằng ơi!". Nỗi buồn trần thế tràn ngập đêm thu, từ trong tỏa ra chứ không phải do "gió thu lạnh — sương thu bạch - khói thu xây thành" như câu thơ trong "Cảm thu, tiễn thu" mà thi sĩ chạnh lòng. Điều khiến người đọc lưu tâm ở câu thơ thứ hai là kiểu "chán nửa rồi" với "trần thế" chứ không phải là "chán hết rồi". Chán nửa có nghĩa là chưa chán hẳn, còn thiết tha với cõi đời. Vậy là thi nhân mâu thuẫn với chính mình, giữa ước muốn thoát li hẳn đời như các thi nhân xưa muốn về với cõi tiên "lánh đục tìm trong" và tâm nguyện ở lại với đời để làm tròn "thiên lương" giúp ích cho dân chúng. Đã có lần nhà thơ băn khoăn với câu hỏi "Đời đáng chán hay là không đáng chán?" với bạn tri âm. Nhưng phút này đây, tri âm vắng bóng để nhà thơ vọng về trắng tâm sự với chị Hằng.

   Trí tưởng tượng phong phú và mãnh liệt của nhà thơ đã làm nên một ước vọng cao vời:

Cung quế có ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị nhắc lên chơi

   Hai câu thực làm rõ cho ước muốn của Tản Đà: muốn làm thằng Cuội. Cung quế, cành đa để gợi nhắc câu chuyện cổ tích nhưng dường như có sự so sánh ngầm trong ý thơ: ở cõi trần gian, "trích tiên" Tản Đà đang cô đơn trong nỗi buồn của chính mình, còn nơi cung Quảng, Hằng Nga cũng đang cô đơn như khách trần gian. Hành trình tưởng tượng của nhà thơ đã ngược về với thời gian cổ tích, để nhà thơ hóa thân vào chú Cuội. Duy chỉ có khác một chi tiết nhỏ: ngày xưa Cuội bám cành đa thần để bay lên trăng, còn hiện tại thì cành đa ấy lại là chiếc thang đón hồn thi nhân lên cung quế. Nghĩa là Tản Đà đến với Hằng Nga để thay thế vai trò chú Cuội. Câu thơ có một chút hóm hĩnh trong ý tứ, nhưng đó là cách cắt nghĩa cho tính chất cuộc gặp gỡ đặc biệt này: giữa Hằng Nga và Tản Đà là mối quan hệ của hai tâm hồn cô đơn đang cần tìm đến nhau. Tản Đà "xin" mà không cầu lụy, bởi lẽ khi hướng về "cung quế", có lẽ thi nhân cũng hiểu thấu nỗi niềm Hằng Nga chăng?

   Bởi thế, hai cầu luận là sự sẻ chia của đôi hồn cô đơn:

Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió cùng mây thế mới vui.

   Bản chất đa tình của thi sĩ đã hé lộ. Câu thơ không phải chỉ diễn tả tâm trạng từ một phía, vì nếu như vậy chẳng hóa ra thi sĩ lên trăng chỉ là giải thoát cho nỗi buồn bực của riêng mình? Cái nồng nàn trong tình ý câu thơ chính là ở chỗ nhà thơ cùng lúc diễn tả hai tâm trạng: một là của Hằng Nga - người cung Quảng Hàn, một là của Tản Đà - người trần thế. Nét phóng khoáng tâm hồn thi nhân đâu chỉ là cái ước vọng lên trăng để vượt thoát cảnh trần đầy chán ngán, mà chính là khi được làm chú Cuội nghĩa là đượclàm bạn cùng san sớt nỗi buồn với giai nhân cung quế. Có như vậy mới thật sự là tri âm tri kỉ! Cái độc đáo Tản Đà chính là ở chỗ cảm nhận được nỗi u buồn của Hằng Nga trong không gian quạnh quẽ chốn Quảng Hàn. Cũng như đã có lần nhà thơ phát hiện giữa cõi tiên tấm lòng trần gian của tiên nữ:

Lá đào rơi rắc chốn Thiên Thai
Suối tiễn, oanh đưa luống ngậm ngùi
                     (Tống biệt)

   Cảnh tiên cũng buồn, nên thi nhân lên với cõi tiên là để chia sẻ cùng người tiên chút tình nồng dương gian của người - cõi - tục. Đồng thời, khi được "cùng gió cùng mây" không vướng bận những lo toan trần thế, con người cũng được giải thoát khỏi nỗi sầu vô hình đè nặng. Tìm về cõi mộng là cách để phá tan thành sầu ở cõi thực, nỗi sầu như thi nhân đã từng cảm nhận: "Từ độ sầu đến nay, ngày nào cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc sầu. Mưa dầm lá rụng mà sầu, trăng trong gió mát mà càng sầu; nằm vắt tay lên trán mà sầu, đem thơ văn ngâm vịnh mà càng sầu. sầu không có mối, chém làm sao cho đứt; sầu không có khối, đập sao cho tan..." .(Giải sầu). Trong nỗi sầu của nhà thơ, ta nhận ra những ám ảnh thời thế, nhân thế và trần thế. Bầu bạn cùng chị Hằng, phải chăng là lúc nhà thơ thật sự thoát khỏi những ám ảnh ấy khi được cận kề hồng nhan tri kỉ:

Rồi đến mỗi năm rằm tháng Tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười

   Bài thơ được mở đầu bằng lời than "buồn lắm", kết lại bằng nụ cười đêm rằm tháng Tám. Niềm vui thay thế nỗi buồn khi những tấm lòng tri kỉ đã gặp gỡ được nhau. Cảm hứng của bài thơ trọn vẹn với hình ảnh trăng thu tuyệt đẹp lay thức giấc mơ của bao kẻ muôn lánh đời thoát tục. Nhưng nếu chỉ có vậy thì cảm hứng bài thơ chưa vượt thoát khỏi khuôn sáo cũ mòn của thơ xưa. Cái tình tứ "tựa nhau" đã làm hiện rõ chất lãng mạn độc đáo của tâm hồn nhà thơ. Có lẽ chưa ai trước Tản Đà lại có sự liên tưởng táo bạo đến thế! Câu chữ khéo léo, ý tình dào dạt của Tản Đà đã làm nên nét nghĩa mới của hình tượng: chú Cuội -- Hằng Nga trong cổ tích đã hóa thân thành đôi lứa khăng khít Tản Đà tài tử và Hằng Nga giai nhân. Nhưng cõi trần "chán nửa" vẫn hiện diện cùng khoảnh khắc "trông xuống thế gian" của đôi lứa tâm đầu ý hợp, làm nên nụ cười "rất Tản Đà". Cười cho trò đời bon chen, cười trước tình đời nhạt nhẽo, và trên hếtlà nụ cười của kẻ vẫn còn nặng lòng trần thế, canh cánh trong hồn thiên chức nhà văn: "Hai chữ thiên lương thằng Hiếu nhớ". Phải chăng nụ cười ấy ẩn chứa một thông điệp hướng về tương lai rạng rỡ niềm vui? Và cũng vì thế mà trăng phải là "rằm tháng Tám", vằng vặc, tròn đầy, trong trẻo. Tắm mình trong ánh sáng dịu dàng giữa nơi cung quế là cả một tâm hồn thi nhân bay bổng tuyệt vời, thăng hoa cùng vẻ đẹp tuyệt đối của "nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi".

   Bài thơ cho ta nhận ra một chân dung tâm hồn Tản Đà: phóng khoáng, đa tình, nhiều mộng tưởng mà vẫn vướng vít những ưu tư trần thế. Con người ấy muốn giữ trọn "thiên lương" giữa cuộc đời ô trọc nên phải đắm chìm trong những "giấc mộng con" để sống thành thực với chính mình và với cuộc đời. Ta chợt nhận ra một nhân cách cao quý không bị vẩn đục bởi những toan tính vụ lợi tầm thường, một con người "đi qua cái hỗn độn của xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX" mà vẫn giữ trọn "linh hồn cao khiết".

   Muốn làm thằng Cuội cũng như bao bài thơ bộc bạch tâm tư của Tản Đà giúp ta hiểu thêm về một con người đã dám phô bày cái tôi đầy cá tính của mình với người đời không cần giấu giếm, như là một cách để đối lập với cả một xã hội thực dân — phong kiến. Tác phẩm góp thêm luồng sinh khí cho cảm hứng lãng mạn, với trí tưởng tượng bay bổng và cảm xúc mãnh liệt, sẽ phát triển mạnh mẽ trong phong trào Thơ mới 1932 — 1945.

Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà

Vầng trăng làm cảm hứng vô tận của thi ca. Vẻ đẹp trong sáng dịu dàng của trăng đem lại cho ta những cảm xúc, những ước vọng về một thế giới đẹp đẽ, thanh cao. Có lẽ Tản Đà là thi sĩ thể hiện sâu sắc nhất khát vọng ấy trong bài thơ Muốn làm thằng Cuội. Theo Hoài Thanh, đó là nốt nhạc đầu tiên của khát vọng lãng mạn, khơi nguồn cho những sáng tạo của phong trào "Thơ mới" sau này. Đọc bài thơ, ta có dịp tìm hiểu tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.
Cung quế đã ai ngồi đó chừa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
Có bầu có bạn, can chi tủi,
Cùng gió cùng mây, thế mới vui.
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

   Tản Đà sống trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nhiều luồng văn hóa tư tưởng khác nhau dần hình thành. Tản Đà và những hoạt động văn chương của ông lúc bấy giờ có một vai trò nhất định trên văn đàn công khai. Thơ văn Tản Đà có nhiều tác phẩm thấm đượm tinh thần yêu nước, những lo âu trăn trở về non sông, vũ trụ, nhân sinh... có tác động tích cực tới xã hội lúc bây giờ. Nhưng cái lớn nhất mà Tản Đà để lại trong thơ văn chính là bản sắc thi sĩ, cái tôi của nhà thơ. Tản Đà đã khẳng định vai trò của cá nhân, của chủ thể con người trong sáng tạo văn học nghệ thuật bằng tác phẩm và lối sống của mình. Điều đó, trước Tản Đà, trong văn học Việt Nam chưa hề có, chính là cái mà người đời gọi, cũng như Tản Đà tự nhận là ngông.

   Theo lời tự thuật của Tản Đà trong cuốn Giấc mộng lớn thì hai câu mở đầu bàỉ thơ Muốn làm thằng Cuội in ở đầu Khối tình con là mãi đến sau này mới làm ra, nhưng cái cảm tưởng thực đã phát từ sau mối tình đầu tiên của ông với một cô gái ở phố Hàng Bồ - Hà Nội. Nhưng gần chục năm sau, qua nhiều từng trải hiểu biết về cuộc đời, Tản Đà mới thấm thía cái thân phận Hai mươi năm lẻ hoài cơm áo của mình. Cái ước vọng muốn làm thằng Cuội mới hình thành rõ nét trong ông. Trong cái xã hội coi trọng đồng tiền và địa vị thì tài năng cũng như những tình cảm chân thật không đủ đem lại hạnh phúc cho con người. Tâm sự buồn bã dở dang chán nửa rồi của ông đã bật lên thành những lời thở than, nhắn gửi trước hết lên vầng trăng, người bạn muôn đời của những kẻ cô đơn giữa đêm thu:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi.

   Lời tâm sự chân thật, hóm hỉnh ấy, ai có thể làm ngơ hay trách cứ? Hơn thế nữa, Tản Đà vốn tự nhận mình là nhà thơ đã có dịp lên "hầu trời". Cho nên nhà thơ có quyền thân mật như thế đấy với chị Hằng! Thi sĩ còn ướm hỏi có ai trên cung quế chưa? Thật là một câu hỏi khéo làm duyên thường gặp trong văn học dân gian: hỏi trăng, tâm sự cùng trăng...

   Đã hỏi khéo rồi mới nói xin chị nhắc lên chơi:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

   Cách lên trăng rất lạ, được nhắc lên như một đứa trẻ - thằng Cuội mà! Và lên trăng rồi vẫn chỉ là một đứa trẻ, làm bầu làm bạn vui cùng mây gió với chị Hằng, ở hai câu đầu, cảnh và tình là nỗi buồn chán, lời là lời than. Đến những câu sau, nỗi chán cánh trần thế chỉ còn gián tiếp qua việc miêu tả cái vui thích trên cung trăng:

Có bầu có bạn, can chi tủi,
Cùng gió cùng mây, thế mới vui.

   Đó chính là thế giới mà Tản Đà mơ ước, là cõi đời trong sáng thanh khiết. Tản Đà muốn làm thằng Cuội vì chán đời, ước mơ chị Hằng nhắc lên mặt trăng chơi, nói là chơi mà là muốn ở đó lâu dài. Tuy nhiên bài thơ không có giọng điệu buồn chán nặng nề về cuộc đời tràn thế, tức là hoàn toàn không phải là tâm sự bế tắc chán nản cuộc đời không lối thoát. Ước vọng ấy còn thể hiện cáitình của ông đối với trăng, là cái lãng mạn của tâm hồn thi nhân khao khát vượt ra khỏi cuộc đời hữu hạn và chật hẹp. Do vậy, nhà thơ muốn xa lánh trần gian mãi mãi, muốn ở một nơi thật xa mà nhìn về, để thấy được cảnh trần thế, thấy cảnh sống khổ đau, chật hẹp, đầy cát bụi.

   Ước vọng thoát li thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình: muốn ngồi trên cung trăng nhìn xuống mà cười chế nhạo thế gian. Đặc biệt, trong tưởng tượng, khi đã thoát tục rồi nhà thơ càng thấy rõ cái chật hẹp bé nhỏ của cõi đời và nguyện được làm tiên mãi mãi để:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

   Cười cho tất cả những giành giật, lo toan bé nhỏ của kiếp người trần gian, cười sung sướng vì khắp dưới cõi trần kia không ai được biết, được hưởng một cuộc sống thần tiên thoát tục như mình. Đó là niềm vui, là hạnh phúc tinh thần riêng mà Tản Đà tự tạo cho mình trong cõi mộng. Cũng như trong cuộc đời thực, ông thường tìm cho mình những vui thú thanh cao khi dạo chơi các miền đất nước, trong những mối tình tri kỉ với bạn bè khắp nơi. Con người ấy không hề bi quan mà biết làm giàu cho đời sống tinh thần của mình.

   Bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà thể hiện tâm trạng buồn chán của nhân vật trữ tình, gợi cho ta những nỗi niềm nghĩ suy man mác, một nỗi buồn trong sáng. Trong bao nhiêu tác phẩm thi ca viết về trăng, bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà vẫn tồn tại mãi với dấu ấn riêng biệt của một tâm hồn thi sĩ, một tâm hồn Việt Nam lãng mạn và tha thiết với trần gian, trần gian thanh cao của ước mơ!

Cái ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội

Bài thơ có sức hấp dẫn do lời thơ tự nhiên, giản dị, có nhiều hình ảnh bắt nguồn từ trong các tác phẩm dân gian hoặc các điển tích thông dụng, do tình thơ buồn chán mà chân thành.

   Hai câu đề đã diễn tả tâm trạng của nhà thơ trước cảnh đời:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nữa rồi.

   Đã "buồn", đã "chán", lại gặp cảnh "đêm thu", tâm trạng ấy dường như nhân lên gấp bội. Nhà thơ buồn chán vì chí hướng của mình không thực hiện được hay vì cuộc đời nghèo khổ, túng quẫn. Câu thơ cứ buồn trĩu xuống bằng những thanh bằng liên tiếp. Nhà thơ không chỉ chán một cảnh đời đang sống mà chán cả trần thế. Có lẽ vì thế mới nảy sinh cái ý "muốn làm thằng Cuội" muốn bỏ quách trần gian để lên ở trên cung quế với chị Hằng.

   Tản Đà chán đời nhưng vẫn không quên đời, Lên với chị Hằng, ông vẫn tìm cách hướng về đời:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

   Đây là cái cười gì? Cười tình, cười sảng khoái, hả hê hay cười mỉa mai, khinh thị? Có lẽ phải hiểu đây là cái cách biểu lộ thái độ khinh bạc với đời. Vì sao ông lại chọn ngày rằm tháng tám chứ không phải ngày khác để biểu thị sự khinh bạc đó? Chắc vì ông muốn nhân lên nhiều lần thái độ bất cần của mình với đời.

   Tóm lại, tâm sự của Tản Đà là tâm sự kẻ buồn chán cuộc sống muốn tìm một nơi ẩn náu. Ông muốn tìm đến với thiên nhiên (ở đây là cung quế và chị Hằng), ẩn mình trong thiên nhiên để giễu cợt lại đời bằng sự kiêu bạc của mình.

   Qua thơ Tản Đà ta còn thấy cái "ngông" thể hiện khá rõ:

   Trước tiên, ngay đề bài đã lóe lên một cái gì không bình thường. Ai cũng biết thằng Cuội trong văn học dân gian, trong ấn tượng của người Việt Nam gắn liền với cái thói nói dối (cho nên mới có câu: "Nói dối như Cuội"). Thế mà ở đây, Tản Đà lại "Muốn làm thằng Cuội", cái ý muốn ấy thật khác thường, thật coi thường tất cả. Nó là một điều ngông.

   Nhà thơ gọi Hằng Nga là chị, xưng em ngọt xớt. Song trong bốn câu thơ sau, ông lại có phần lả lơi với chị Hằng:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
Có bầu, có bạn, can chi tủi
Cùng gió, cùng mây, thế mới vui.

   Câu "Cành đa, xin chị nhấc lên chơi" vừa nói cách lên cung trăng lạ đời của ông, vừa có ý vị cười cợt của Xuân Hương. Chất đùa cợt lúc ẩn lúc hiện trong những câu thơ này khiến bài thơ lấy lại thế cân bằng, không lao sâu vào nỗi buồn chán giãi bày trong hai câu thơ mở đầu của bài. Trong cách xưng hô, trò chuyện của ông với chị Hằng, có ẩn chứa chút hơi ngông.

   Ở hai câu cuối, tư thế nhà thơ và chị Hằng cùng "Tựa nhau trông xuống thế gian cười" cũng là tư thế khác thường với quan niệm nam nữ thời ông đang sống. Nó cũng là cử chỉ ngông nghênh của ông dưới con mắt các nhà nho đương thời.

   Vì sao Tản Đà lại có cái ngông, lại thể hiện cái ngông đó trong thơ mình? Có lẽ đây là một cách phản ứng lại với cuộc sống. Nó gắn liền với cá tính phóng túng của nhà thơ. Nó tạo cho thơ ông có một giọng điệu khác thường.

   Bài thơ hấp dẫn người đọc trước tiên do lời thơ giản dị, tự nhiên. Có câu như một tiếng than, có câu lại như một lời hỏi. Câu nào cũng không thấy dấu vết đẽo gọt của bàn tay thơ nhưng câu nào cũng điêu luyện.

Lượt xem: 166

Nguồn: vietjack