Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Văn mẫu: Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

Gửi bởi: Nguyễn Thị Ngọc vào ngày 2019-10-30 02:29:57

Mục lục
* * * * *

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử 

Có một thi sĩ Việt mà đến hai thành phố lấy tên ông đặt cho những con đường, đó là Hàn Mặc Tử. Ông là một hiện tượng kì lạ bậc nhất của phong trào thơ mới, được Chế Lan Viên nhận xét: “Trước không có ai, sau không có ai Hàn Mặc Tử như ngôi sao trổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”. Nhắc đến Hàn Mặc Tử người ta không quên hình ảnh tươi đẹp của thiên nhiên và con người xứ Huế mộng mơ qua bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. Đó là bức tranh tuyệt đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người, giữa nét thực và hư mộng cuộc đời, cũng là tiếng lòng yêu tha thiết cuộc sống của thi sĩ.

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác năm 1938 lúc đầu có tên “Ở đây thôn Vĩ Dạ” sau được đổi lại. Tác phẩm được in trong tập “Thơ điên” (sau đổi thành “Đau thương”). “Đây thôn Vĩ Dạ” được gợi nguồn cảm hứng từ mối tình đơn phương của nhà thơ với một người con gái xứ Huế mộng mơ là Kim Cúc. Đó là con gái của viên chức cấp cao, thiếu nữ mang trong mình nét đẹp dịu dàng, duyên dáng giữ nét chân quê. Hàn Mặc Tử yêu người con gái thầm kín, chỉ dám đứng nhìn từ xa. Mối chân tình ấy được nhà thơ ấp ủ gửi vào tập “Gái quê”. Sau đó Hoàng Cúc theo cha về thôn Vĩ Dạ ở Huế nên ông buồn tủi, đau đớn lại mang trong mình căn bệnh phong khiến nỗi đau ấy càng da diết. Bạn của Hàn Mặc Tử là Hoàng Tùng Ngâm (anh họ Hoàng Cúc) biết được nỗi tâm tình đó nên đã viết thư gửi ra Huế cho Cúc khuyên nàng viết thư thăm hỏi, động viên một tâm hồn bất hạnh. “Thay vì viết thư thăm, tôi gửi bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái danh thiếp. Trong ảnh có mây, có nước, có cô gái chèo đò với chiếc đò ngang, có mấy khóm tre, có cả ánh trắng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm Tử rồi nhờ Ngâm trao lại. Sau một thời gian, tôi nhận được bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” và một bài thơ nữa do Ngâm gửi về”. Chính tấm bưu ảnh trực tiếp sự khơi gợi cảm xúc cùng với mối tình thầm kín của Hàn Mặc Tử đã viết nên một thi phẩm giàu cảm xúc, giàu hình ảnh mộng mơ và thẫm đẫm nỗi buồn man mác trong tâm hồn thi nhân.

Thôn Vĩ Dạ là một thôn nhỏ nằm bên bờ sông Hương xứ Huế. Nơi đây là một khu nhà vườn tuyệt mĩ có cây cảnh, cây ăn quả rất nổi tiếng trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho các thi nhân, tiêu biểu là câu thơ của thi sĩ Bích Khê: “Vĩ Dạ thôn! Vĩ Dạ thôn/ Biếc tre cầu trúc không buồn mà say”. Hay câu thơ tả vẻ đẹp thần tiên Cồn Hến Vĩ Dạ: “Ti trúc mê li xuân dưới nguyệt/ Cỏ hoa vờ vật mộng trong hương…”

Mở đầu bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là câu thơ mang hình thức câu hỏi tu từ với nhiều sắc thái, ý ngĩa khác nhau: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Liệu có phải đây là lời trách móc nhẹ nhàng cũng là lời mời tha thiết về thăm thôn Vĩ của cô gái? Hay là lời tự trách của Mặc Tử sao không về chơi thôn Vĩ, cụm từ “về chơi” thật chân tình, chân thành và rất gần gũi, thân thương. Câu thơ mở đầu của Hàn Mặc Tử rất đặc biệt ông biết cách đặt thanh bằng vào tiếng thứ ba “không” và nhất là sự táo bạo phá luật, thất lệ ở tiếng thứ tư “về” đặt một thanh bằng vì theo như thể thơ thất ngôn tứ tuyệt nó phải là một thanh trắc vì theo lệ “Nhị tứ lục phân minh”. Nếu câu thơ mở đầu là “Sao anh không ghé chơi thôn Vĩ?” hay câu “Thôn Vĩ sao anh không về chơi?” thì nó lại mang một ý thơ khác không còn là cái tôi đặc sắc riêng của Hàn Mặc Tử. Ông giống như Thôi Hiệu phá cách trong câu thơ “Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ”. Nhờ thể bằng ở tiếng thứ nhất, thứ hai và thứ sáu tao đà cho một loạt thanh bằng tiếp theo trước khi kết thúc bởi thanh trắc vút cao ở chữ “Vĩ” thật tuyệt sắc tuyệt mĩ. Câu thơ gợi lại cho ta nhiều suy ngẫm, trăn trở về một hồn thơ “Tài hoa bạc mệnh”.

Mở ra đằng sau câu hỏi ấy là bức tranh tả cảnh sắc thôn Vĩ trong nắng sớm bình minh: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên/ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Ấn tượng độc đáo là nắng hàng cau, trong vườn cau là loài cây cao nhất, loài cây được đón ánh nắng bình minh đầu tiên. Cụm từ “nắng mới” dùng để chỉ ánh ánh nắng tinh khôi buổi sáng, từ mới tô đậm sự trong trẻo, tinh khiết. Vẫn là ánh nắng ngày nào nhưng trong con mắt của thi sĩ nó thật đẹp thật chan hòa, ấm áp biết bao. “Vườn ai” gợi cảm giác mơ mồ, bất định với cách sử dụng đại từ phiếm chỉ “ai” gây tò mò với vẻ đẹp bí ẩn không thể sở hữu. Tính từ “mướt” chỉ màu xanh non tơ, mỡ màng của cây lá tràn đầy sức sống với sắc tình xuân được so sánh với màu xanh của ngọc_một màu xanh dịu nhẹ có sức hút kì lạ. Dưới cái nhìn của thi nhân khu vườn sáng sớm mang vẻ đẹp lung linh, huyền ảo khi buổi đêm được tắm sương hôm, sáng đến lại được ngập tràn trong nắng mới. Đó là một vẻ đẹp của thanh tú, thuần khiết của một vùng quê yên ả khiến cho nhà thơ ngạc nhiên, trầm trồ trong hạnh phúc.

Trên nền cảnh thiên nhiên con người bỗng được hiện lên: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Mặt chữ điền ở đây là một gương mặt cụ thể của một người con gái mang vẻ đẹp duyên dáng e lệ đằng sau lá trúc hay đó là sự cách điệu hóa của nhà thơ để chỉ vẻ đẹp tâm hồn của con người xứ Huế chịu thương chịu khó, ngay thẳng, kín đáo và phúc hậu? Dù hiểu theo cách nào thì ta cũng có thể thấy được vẻ đẹp của con người hiện lên sau câu thơ. Đó là hình ảnh hư hư thực thực mang lại cảm giác về cái đẹp mộng mơ. Hơn một lần thi sĩ đã gợi nhắc hình ảnh người con gái và trúc trong thơ: “Thầm nghĩ với ai ngồi dưới trúc/ Nghe ra ý nhị và ngây thơ”. Như vậy với bút pháp ước lệ tượng trưng thi nhân đã tạo nên bức tranh tuyệt mĩ kết hợp hài hòa vẻ đẹp thiên nhiên buổi sớm và sự duyên dáng, kiều diễm của con người, cho thấy tâm hồn yêu đời, yêu thiên nhiên sâu sắc của con người bị hành hạ đau đớn đến quằn quại vì bệnh tật.

Tưởng chừng như mạch thơ bị đứt đoạn, nhà thơ đã chuyển cảnh đột ngột từ bình minh sang đêm trăng thơ mộng. Đó là một nét độc đáo trong tư duy thơ của Hàn Mặc Tử, bên ngoài có vẻ rời rạc nhưng ẩn sâu bên trong là sự logic của mạch cảm xúc. Nhà thơ đang mang trong mình tâm trạng háo hức, mong chờ được về chơi thôn Vĩ thì lại chuyển sang buồn tủi, cô đơn như tỉnh mộng trở về với thực tại khắc nghiệt bởi mối nhân duyên ấy bị ngăn cách, cản trở do căn bệnh nan ý lúc bấy giờ. Những hình ảnh thiên nhiên cũng nhuốm màu chia li, buồn tủi của nhà thơ:

    “Gió theo lối gió mây đường mây

    Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”.

Đáng lẽ mây và gió là là một cặp song hành với nhau, gió thổi mây bay nhưng ở đây Hàn Mặc Tử lại nhìn thấy nó li biệt gió lối gió, mây đường mây tạo thành nghệ thuật tiểu đối cùng với cách ngắt nhịp 4/3 gợi sự ngăn cách đôi ngả. Cái nhìn và sự quan sát của nhà thơ vận động từ cao xuống thấp, từ xa đến gần. Thi nhân lia ống kính tâm hồn từ cảnh vật trên trời xuống dòng nước bên dưới đang chảy chầm chậm, lững lờ. Hình ảnh hoa bắp lay nhẹ, khẽ khàng để hô ứng với nước. Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa để làm cho dòng nước cũng biết buồn thiu. Ở đây có bút pháp tả cảnh ngụ tình, Hàn Mặc tử tả cái buồn hiu quạnh của cảnh vật để gợi đến tâm trạng buồn tủi, cô đơn của bản thân, chẳng tự nhiên mà dòng nước có thể buồn mà bởi cái nhìn buồn rầu, ảm đạm của nhà thơ mà trở nên như vậy. Đúng như Nguyễn Du đã từng nói: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Như vậy hai câu thơ đặc tả hình ảnh thiên nhiên chia đôi, rời rạc để gợi tả hoàn cảnh, tâm trạng thi nhân.

Mạch cảm xúc lại bị chuyển khi từ một dòng nước buồn thiu giờ đây lại trở thành một dòng sông tràn ngập ánh trăng:

    “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay”

Trăng, gió, mây là nguồn cảm hứng sáng tác của các thi nhân bao đời như bài thơ “Buồn trăng” của Xuân Diệu có viết: “Gió sáng bay về, thi sĩ nhớ/ Thương ai không biết đứng buồn trăng/ Huy hoàng trăng rộng nguy nga gió/Xanh biếc trời cao, bạc đất bằng”.Trong thơ Hàn ta thấy ông luôn bầu bạn với ánh trăng, trăng là tri âm tri kỉ là nơi trú ngụ linh hồn cuối cùng của nhà thơ để trốn tránh thực tại bệnh tật. Trang thơ ông có biết bao hình ảnh ánh trăng tuyệt mĩ, bất thường, bất hủ: “Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi” hay “Trăng ngậm đầy sông chảy lai láng”, ở trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” đó cũng là một sông trăng có “thuyền ai” đậu trên đó, có ánh trăng tan chảy làm cho dòng nước ngập tràn trăng đêm lung linh, mờ ảo. Cái lạ của câu thơ không chỉ vì đây là một câu thơ siêu thực, lạ vì siêu thực một cách rất hiện thực dưới sự đặc tả của Mặc Tử. Câu hỏi tu từ trong hai câu thơ mang tâm trạng băn khoăn của tác giả. Từ “kịp”cho thấy cuộc chạy đua của người bệnh với thời gian cuộc đời, “tối nay” là một đêm sao ngắn ngủi thế. Ta cảm thấy trong hồn thơ Hàn luôn mang tâm trạng mặc cảm khác với quan niệm về cái chết của Xuân Diệu. Ông hoàng thơ tình luôn nhìn thấy cái chết ở phía cuối con đường nên ông càng phải tranh thủ sống có ích, có nghĩa từng ngày tối đa với hạnh phúc, còn thi sĩ Hàn_con người bất hạnh mang trong mình căn bệnh phong đáng sợ luôn nhìn thấy cái chết cận kề, đối với ông chỉ cần được sống thôi là hạnh phúc. Nếu thuyền để chở người, chở đồ thì với nhà thơ là chở trăng_hiện tượng tự nhiên cao vời vợi ở trên trời. Đó là nét mờ ảo xen lẫn hiện thực cho thấy sự khắc khoải tuyệt vọng của nhà thơ gợi thương cảm, xót xa cho số phận thi nhân tài hoa tài tử mà lại gặp phải bi kịch cuộc đời. Tử càng điên cuồng yêu đời bao nhiêu thì càng bị hành hạ đau đớn đến quằn quại bấy nhiêu bởi bệnh tật. Đúng như L.Tolstoi đã từng nói: “Khó khăn hơn cả là yêu cuộc sống với những nỗi đau khổ của mình”.

Chất thơ của Hàn Mặc Tử luôn được đan xen hài hòa giữa chất hiện thực và cõi ảo mộng. Hiện thực khắc nghiệt quá nên nhà thơ tìm về với vẻ đẹp của cõi mộng để an ủi lòng mình nhưng mộng dù có dài lâu đến mấy thì cũng phải tỉnh để rồi nhà thơ rơi vào ảo ảnh thực tại:

    “Mơ khách đường xa, khách đường xa

    Áo em trắng quá nhìn không ra

    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

    Ai biết tình ai có đậm đà?”

Mơ là trạng thái vô thức khi con người ta chìm đắm trong cõi mộng, điệp từ “khách đường xa” được lặp lại hai lần mang hai trạng thái cảm xúc. Lần đầu là khát vọng mơ gặp khách đường xa, lần sau là thực tại càng muốn mơ thấy người khách thì lại thấy đường càng xa. Tác giả mơ về bóng giai nhân trong ảo ảnh. Không thể thoát ra khỏi cõi mộng tác giả đem về hiện tại với hình ảnh hư thực “Áo em trắng quá nhìn không ra” đó là áo em với một màu trắng tinh khôi, tinh khiết, nhà thơ cực tả sắc trắng một cách kì lạ, bất ngờ nên khiến cho “em” chìm vào cõi ảo. Câu thơ thứ ba xuất hiện làm cho lớp nghĩa câu hai càng rõ nét. Thời tiết ở Huế nắng nhiều, mưa nhiều và sương cũng nhiều. Sương khói làm mờ đi hình bóng của “em”, lại cộng thêm sắc trắng của áo khiến cho bóng giai nhân vừa gần vừa xa, vừa thực vừa hư. Đây là ảo giác xa rời với hiện thực. Dường như điều đó càng làm cho tâm trạng thi nhân thêm khắc khoải được thể hiện qua sự lặp lại của đại từ phiếm chỉ ai: “Ai biết… ai có…” ở câu cuối nhấn mạnh tâm trạng bâng khuâng, xót xa của một tâm hồn khao khát được sống được yêu và yêu say đắm với người con gái xứ Huế mang tên một loài hoa. Câu thơ hàm chứa hai ý nghĩa đối lập nhau: Trước hết làm sao để biết được tình cảm của người xứ Huế nơi xa có đậm đà không hay như là sương khói mù mịt rồi tan đi. Thứ hai làm sao để cô gái ấy biết được tình cảm nhớ thương da diết của nhà thơ dành cho nàng. Câu hỏi thể hiện nỗi cô đơn, trống vắng, đau đớn của một tâm hồn thơ tài năng mà hoàn cảnh, số phận nhuốm màu bi thương.

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” với bút pháp nghệ thuật ước lệ tượng trưng, tả cảnh ngụ tình cùng với ngôn từ trong sáng được chắt lọc, hình ảnh thơ đặc sắc và lối sử dụng điệp từ đã thể hiện được tiếng lòng của nhà thơ trữ tình mới lạ. Ông xứng đáng là một thiên tài trác tuyệt nổi bật trong những nhà thơ mới với hồn thơ đau thương của con người bệnh tật nhưng vẫn ham sống mãnh liệt tạo nên một hồn thơ lạ trong nền văn học Việt Nam đúng như ý thơ của Nguyễn Viết Lãm dành cho thi sĩ Hàn: “Tử thân yêu, hồn thơ anh chỉ một/ Hành tinh chật rồi không chứa nổi hai đâu”

Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ 

Cảnh sắc thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng dào dạt cho các thi nhân thả hồn mình sáng tác tuyệt bút thơ ca. Nếu bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu luôn giàu sức sống, tươi mới thì thiên nhiên nơi thôn Vĩ trong “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử lại mang nét giản dị, thơ mộng, thấm đẫm nỗi buồn da diết, bâng khuâng của thi sĩ với hai bức tranh thiên nhiên ở mỗi khoảnh khắc.

Bài thơ được gợi cảm hứng trực tiếp từ tấm ảnh của Hoàng Cúc gửi cho Hàn Mặc Tử trong ấy “có mây, nước, có cô gái chèo đò với chiếc đò ngang, có mấy khóm tre, có cả ánh trắng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước” cùng với mối tình duyên thầm kín mà thi nhân dành cho nàng đã viết nên những vần thơ da diết, nỗi buồn ở những ngày cuối đời cận kề với căn bệnh nan y. Thôn Vĩ Dạ - một thôn nhỏ bên bờ sông Hương thơ mộng, nơi người con gái mang tên loài hoa ấy theo cha về đó sống. Nơi đây là một khu nhà vườn tuyệt đẹp đã từng là nguồn cảm hứng cho biết bao nhà thơ rung cảm để sáng tác.

Mở ra cho bức tranh thiên nhiên bình minh tươi đẹp là dạng thức câu hỏi tu từ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Câu hỏi ấy vừa giống như lời trách móc nhẹ nhàng cũng là mời về chơi của cô gái thôn Vĩ hay là lời tự trách bản thân của nhà thơ gợi cho ta nhiều băn khoăn, trăn trở. Ẩn phía sau đó là vẻ đẹp thiên nhiên có nắng sớm rọi trên hàng cau, có một khu vườn mướt xanh như ngọc:

    “Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Vừa bước chân đến vườn dội vào mắt ta là ánh nắng mới_thứ ánh nắng sớm tinh khôi, tinh khiết không rực rỡ chói lòa mà dịu nhẹ ấm áp. Trong vườn có những hàng cau vươn mình thức dậy đón nắng mới đầu tiên, bởi cau là loài cây cao nhất ở đó có thể hứng nắng sớm nhất khi mặt trời thức giấc tỏa nắng. Đi sâu vào trong hiện ra là một màu xanh mướt như ngọc của cây cối. Tính từ “mướt” được sử dụng gợi tả không gian trải dài chỉ một màu xanh thuần khiết. Chỉ với hai câu thơ đặc tả cảnh nhiên nhiên với từ ngữ được chọn lọc đã cho thấy một bức tranh tràn đầy sức sống của nắng mới hiện lên. Nổi bật trên nền tranh ấy là hình ảnh người con gái duyên dáng, e thẹn sau lá trúc trong câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Gương mặt ấy phải chăng là của một ai đó cụ thể hay là sự cách điệu hóa để chỉ nét đẹp tâm hồn dịu dàng, thướt tha của con gái Huế xinh đẹp.

Khoảnh khắc bình sáng sớm tươi đẹp đã khép lại mở ra cho người đọc cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong đêm sông trăng có mây, gió, nước trôi, hoa bắp và chiếc thuyền đơn độc:

    “Gió theo lối gió, mây đường mây

    ...Có chở trăng về kịp tối nay?”

Hàn Mặc Tử mang trong mình căn bệnh hủi (bệnh phong) đáng sợ, cuộc đời tuổi trẻ của ông phải đối mặt với cơn đau bệnh tật nên trong dự cảm thi sĩ luôn có sự li biệt, xa cách với những người thân yêu. Nên hình ảnh thiên nhiên ở đây cũng nhuốm màu bi thương của tác giả. Gió, mây là cặp hiện tượng tự nhiên vốn được song hành cùng với nhau gió ở đâu mây theo đó, gió thổi thì mây bay nhưng trong mắt của thi nhân thì ngược lại gió, mây mỗi nơi một hướng, ngược chiều nhau. Trên trời thì mây gió li biệt, dưới dòng nước thì buồn thiu có hoa bắp lay nhẹ nhàng hô ứng với tốc độ chảy chậm chạp của nước. Tác giả đã sử dụng biệt pháp nhân hóa khiến cho dòng nước cũng có cảm xúc, cũng biết buồn thiu. Nỗi buồn ấy bắt nguồn từ sự cô đơn, buồn tủi của nhà thơ bởi “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Ánh trăng vốn là nguồn cảm hứng, là người bạn tri âm, tri kỉ, là nơi trú ngụ cuối cùng linh hồn để trốn tránh thực tại của thi nhân. Trong thơ Hàn Mặc Tử ta đã có vô số lần bắt gặp ánh trăng đêm có một loạt các bài thơ viết về trăng như: Uống trăng, Đà Lạt trăng mờ, trăng sáng, trăng và trăng ngọc, một miệng trăng, ngủ với trăng, rượt trăng, say trăng, trăng tự tử…và còn biết bao bài thơ nữa nhà thơ gửi gắm tâm tư tình cảm của mình vào ánh trăng. Ở bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” đó là sự tan chảy của ánh trăng đêm trên bề mặt làm cho dòng nước tắm trong ánh trăng hóa thành dòng sông trăng lung linh, mờ ảo. Trên con sông trăng ấy có con thuyền cô đơn đậu đó. Thuyền đi có chở về cho kịp tối nay không? Câu hỏi tu từ gợi nỗi niềm băn khoăn của thi sĩ, cũng như bao đêm khác nhưng từ “kịp” khiến ta có cảm giác đêm nay thật ngắn ngủi và đó như là một cuộc chạy đua với thời gian cuộc đời. Bến trăng, sông trăng, thuyền trăng chỉ là những hình ảnh mà nhà thơ tưởng tượng ra để thể hiện tâm trạng tiếc nuối cho mối tình dang dở, yêu tha thiết sự sống và vẻ đẹp cuộc đời. Cảnh vật thiên nhiên như ngưng đọng lại, thấm đẫm nỗi buồn đau sâu thẳm của thi nhân. Càng yêu tha thiết thiên nhiên bao nhiêu thì Hàn Mặc Tử càng phải chịu nỗi đau tâm hồn và thể xác bấy nhiêu. Đúng như L.Tolstoi đã từng nói: “Khó khăn hơn cả là yêu cuộc sống với những nỗi đau khổ của mình”.

Như vậy chỉ với những nét vẻ điểm xuyết đơn giản, nhẹ nhàng nhưng tinh tế và sâu sắc qua cái nhìn thi nhân thiên nhiên tươi đẹp của xứ Huế mộng mơ hiện lên thật sinh động, giàu sức sống nhưng cũng thấm đẫm nỗi buồn đau bâng khuâng, da diết. Ai đó đã nói rất đúng: “Nghệ thuật có thể làm ra những vần thơ đẹp nhưng chỉ với tâm hồn mới làm nên thi ca”. Nếu không có một tình yêu thiên nhiên xứ Huế thơ mộng làm sao Hàn Mặc Tử có thể vẽ nên được bức tranh tuyệt mĩ như vậy về thôn Vĩ.

Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912, tại Lệ Mĩ, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình công chức theo đạo Thiên Chúa.

   Năm 1920, Hàn Mặc Tử theo gia đình vào học tiểu học ở Sa Kì, Quy Nhơn, sau đó học ở Bồng Sơn, rồi lại trở về học ở Sa Kì.

   Năm 1926, thân sinh Hàn Mặc Tử bị bệnh rồi mất ở Huế, ông theo mẹ vào Quy Nhơn, bắt đầu làm thơ Đường với bút hiệu Minh Duệ Thị.

   Năm 1928, Hàn Mặc Tử ra học ở trường Pellerin ở Huế, đổi bút hiệu là Phong Trần, ghé thăm cụ Phan Bội Châư ở Bến Ngự nên bị Pháp xóa tên trong danh sách những người được đi du học ở Pháp.

   Năm 1932 — 1933, ông làm việc ở sở Đạc Điền Quy Nhơn, có thơ đăng báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Tân Văn: Tới năm 1934, theo Thúc Tề vào Sài Gòn làm báo, lấy bút hiệu Lệ Thanh, rồi Hàn Mặc Tử.

   Những bài thơ Đường luật đầu tiên của Hàn Mặc Tử mang cảnh buồn lạnh như cảnh Chùa hoang:

    Hương sầu khói lạnh năm ngơ ngác

    Vách chán đêm suông đứng dãi dầu.

   Qua nỗi buồn nhè nhẹ trong tập Gái quê. Và rồi người đọc ngạc nhiên khi trong tập Thơ Điên lại có Đây thôn Vĩ Dạ không điên tí náo, ngược lại còn đẹp, có chủt dịu dàng...

   Một lời mời, lời trách nhẹ nhàng, thân ái mở đầu bài thơ.

   Nghệ thuật trách và mời trong câu thơ thật khéo léo.

    Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

   Trách vì đã quen nhau và đã mời từ trước. Bây giờ mới về gặp mặt, nhắc lại là để trách yêu nhưng cũng để giới thiệu cái đẹp trong sáng, xinh tươi. Tiếp đến, người đọc thấy một bức tranh bình minh rạng rỡ:

    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.

   Đấy là một đất trời rạng rỡ với nắng sớm long lanh trên những tàu cau còn đẫm sương đêm vươn lên đón nắng ban mai, hòa vào một không gian mượt mà, tươi non trong vườn cây sum suê thấp thoáng bóng người. Nghệ thuật đảo ngữ và so sánh trong câu thơ thứ hai làm tăng thêm vẻ xanh trong cảnh vườn. Trong cảnh đẹp nõn nà ấy lại thấy xuất hiện:

    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

   Người ta cứ thắc mắc khuôn "mặt chữ điền" đó là của ai? Người ta cứ nghĩ rằng khuôn mặt đó "vuông" chứ chẳng phải "khuông trăng" hay "trái xoan" nên cứ đoán rằng đó là khuôn mặt của nam giới. Sao không nghĩ rằng đó là khuôn mặt của em? Vừa giới thiệu hàng cau, giới thiệu "vườn... xanh như ngọc" của "ai" đó. "Anh" vừa nhìn được cảnh đẹp ấy, còn nhìn được khuôn mặt chữ điền của "ai" đó thấp thoáng bên bụi trúc. Có đôi mắt, sống mũi, đôi môi, gò má hồng... cân đối thì khuôn mặt chữ điền phúc hậu kia sao lại chẳng là khuôn mặt của người đẹp? Cái khéo léo của nhà thơ là ở tài giới thiệu "ai" đó một cách kín đáo, duyên dáng... và phúc hậu theo quan niệm về tướng mạo của người xưa.

   Lời hỏi, lời trách nhẹ; cảnh bình minh ở trên vừa thực vừa mơ. Thực là cảnh thực của Vĩ Dạ, mơ là cái mộng của nhà thơ. Có thể trước kia Hàn Mặc Tử đã về cùng thôn Vĩ, nhưng bây giờ thì là mơ, làm thơ mơ được về nơi ấy, thưởng thức cảnh đẹp của bình minh, rồi ngẩn ngơ cảnh chiều buồn giữa khu vườn bắp đang độ trổ cờ:

    Gió theo lối gió, mây đường mây

    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.

   Cảnh hiền lành của miền quê trong chiều, và trước dòng chuyển của thời gian vô tình, mỗi sự vật đều như cố thu về trong cõi cô đơn, quạnh quẽ của riêng mình. Ở đây, mây không còn nương gió. Điệp từ trong câu thơ không để nhấn mạnh mà là để diễn tả nỗi cô đơn. Gió, mây, dòng nước, hoa bắp như có hồn, cảm nhận được cái vô tình nghiệt ngã của thời gian lướt tới. Ai đã từng về Vĩ Dạ tất nhận ra cảnh đẹp của một thôn ngoại vi của kinh thành Huế nằm bên bờ sông Hương có cánh đồng lau và những nương bắp, nơi cư trú của các quan triều Nguyễn.

   Và ta cũng đừng quên đêm với Hàn Mặc Tử là trăng. Hàn Mặc Tử là nhà thơ của trăng. Trăng trong những bài thơ Đường luật như:

    Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa

    Sương dẫm trăng lồng bóng thiết tha...

   Trăng trong Bẽn lẽn như:

    Trăng nằm sòng soãi trên cành liễu

    Đợi gió đông về để lả lơi...

   Trăng trong Mật đẳng như:

    Anh ngâm nga để mở rộng cửa lòng

    Cho trăng xuân tràn về say chới với.

   Và còn cả một tập thơ xuôi Chơi giữa mùa trăng, nên Vĩ Dạ sông nước hữu tình kia, trong thơ của chàng làm sao thiếu trăng được! Và anh thơ đã hỏi giữa khoảng trời mênh mông:

    Thuyền ai đậu bển sông trăng đó

    Có chờ trăng về kịp tối nay?

   "Thuyền ai" đậu có thể xác định được là của ai? Chở trăng về đâu vậy hở? Chở trăng về Vĩ Dạ với chàng ư? Hay ai đó chở trăng về với người thương đang đợi? Có thể như thế lắm, thơ là mơ mộng mà!

   Khổ thơ cuối có lẽ là nhà thơ đã tỉnh mộng, đã quay về với thực tại nơi nhà thơ đang sống. Nhà thơ đã:

    Mơ khách đường xa, khách đường xa

    Áo em trắng quá nhìn không ra.

   Cần nhớ rằng nhà thơ làm bài thơ này lúc đã bị bệnh phong, cắt đứt mọi quan hệ giao tiếp với người thân ngoại trừ vài người thân thiết nhất, bởi vậy mà niềm mơ ước của nhà thơ tha thiết vô cùng. Giờ đây, không phải mơ được về thăm thôn Vĩ mà là mơ người thôn Vĩ đến thăm chàng. Mơ lắm ở nghệ thuật lấy lại "khách đường xa". Người khách ấy còn trinh trắng quá không chỉ trong tâm hồn mà còn cả ở "áo em…"

   Nhà thơ quay về với thực tại: buồn lắm, cô đươn lắm, tuyệt vọng đang hiện về từ chứng bệnh ngặt nghèo. Chính ở trong tâm trạng đó, nhà thơ khao khát cuộc sống, khao khát tình yêu tới tột cùng:

    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

    Ai biết tình ai có đậm đà?

   Đất Quy Hòa cát trắng là nơi nhà thơ đang sống cùng bệnh phong, nơi tình người chỉ thoáng như "sương khói" ngày nắng tháng mưa.

   Cái tha thiết ước mong đọng lại ở câu thơ cuối cùng. Chẳng hiểu em (ai) có biết cho tình yêu của ta (ai) với em vô cùng tha thiết, nồng đượm? Cái hay của câu thơ nằm ở nhân xưng dại từ phiếm chỉ "ai" ở câu thơ nghi vấn có âm hưởng của tiếng thở dài vô vọng.

   Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm sâu sắc, Đây thôn Vĩ Dạ một bài thơ đẹp. Một bài thơ có những câu tả cảnh đầy tính nghệ thuật làm tăng thêm vẻ đẹp của một vùng quê xứ Huế. Đồng thời cũng thể hiện khao khát sống, khao khát được yêu của nhà thơ trong cảnh sống cô đơn, bệnh hoạn... một bài thơ tình yêu của một kiếp người truân chuyên nhưng đầy ắp tình yêu đời, yêu người.

Giới thiệu về tác giả Hàn Mặc Tử

1. Tác giả

   Hàn Mặc Tử (1912-1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, quê ở làng Mĩ Lệ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới (nay thuộc tỉnh Quảng Bình). Hàn Mặc Tử xuất thân trong một gia đình viên chức nghèo, cha mất sớm, từ nhỏ sống với mợ ở Quy Nhơn và có một thời gian học trung học ở Huế. Hết thời gian ở Huế, Hàn Mặc Tử làm công chức ở Sở Đạc điều Bình Định rồi vào Sài Gòn làm báo. Năm 1936, Hàn Mặc Tử phải trở về Quy Nhơn để chữa bệnh, bốn năm sau ông mất do căn bệnh phong.

   Hàn Mặc Tử làm thơ từ rất sớm (14, 15 tuổi) với nhiều bút danh khác nhau như Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh... Ban đầu Hàn Mặc Tử sáng tác theo thơ cổ điển Đường luật, sau đó chuyển sang sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn. Cuộc đời Hàn Mặc Tử thật ngắn ngủi và chịu nhiều đau thương, nhưng với khả năng sáng tạo và nghị lực phi thường, ông đã để lại cho thế hệ sau nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Qua diện mạo hết sức phức tạp và đầy bí ẩn của thơ Hàn Mặc Tử, người ta vẫn thấy rõ một tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc đời trần thế.

   Các tác phẩm chính của Hàn Mặc Tử: Gái quê (1936), Thơ Điên (1938), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Duyên kì ngộ (kịch thơ —1939), Quần tiên hội (kịch thơ — 1940), Chơi giữa mùa trăng (thơ văn xuôi —1940). Ngoài tác phẩm Gái quê được in khi tác giả còn sống, còn tất cả các tác phẩm còn lại đều dược in thành tập khi Hàn Mặc Tử đã mất.

   2. Tác phẩm

   Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ lúc đầu có tên Ở đây thôn Vĩ Dạ được in trong tập Thơ Điên (về sau đổi thành Đau thương). Cảm hứng của bài thơ có thể được lấy từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái quê ở Vĩ Dạ, một xóm nhỏ bên dòng sông Hương.

Bình giảng khổ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

I. MỞ BÀI

   Làm thơ từ tuổi mười sáu và chín năm "kết duyên" vói Thơ mới, Hàn Mặc Tử đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người yêu thơ Việt Nam. Hồn thơ Hàn Mặc Tử đa dạng phong phú vừa mang nỗi quặn đau với những hình ảnh thường "vẩn đục" vừa mang đến những hình ảnh trong trẻo hiền hòa đến lạ thường.

   Ta gặp ở "Đây thôn Vĩ Dạ" một tình cảm yêu thương đằm thắm, bâng khuâng và nỗi khao khát hướng đến hơi ấm tình người hướng đến "ngôi vườn" cuộc đời qua bức tranh thiên nhiên xứ Huế bình yên, thơ mộng.

II. THÂN BÀI

   1. Tìm hiểu hoàn cảnh ra đời bài thơ và địa danh Vĩ Dạ.

   2. Bình giảng

   - Câu thơ mở đầu là một lời mời mọc, cũng có thể là lời trách móc nhẹ nhàng, duyên dáng, thân tình (cũng có người cho đây là lời của nhà thơ thờ tự vấn lòng mình). Ngôn ngữ chọn lọc mà như ngẫu nhiên phóng bút. "Sao anh không về" là nên một duyên cớ để gợi nhớ hình ảnh thân quen xứ Huế mà một thời Hàn đã học nơi đâu. Có lẽ nhà thơ tự trách mình tự nhủ lòng mình sao dễ lãng quên một nơi mà mình từng gắn bó, một phong cảnh thiên nhiên nên thơ của Huế được điển hình qua thôn Vĩ.

   - Thôn Vĩ tràn ngập nắng ban mai "Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên; Vườn ai mướt quá xanh như ngọc". Thôn Vĩ có những hàng cau thẳng tắp và nắng ban mai tràn ngập không gian. Vườn tược nơi đây xanh màu ngọc, càng lung linh hơn dưới nắng mai khi lá cành còn đọng sương đêm trước.

   Lời thơ thật hồn nhiên với câu hỏi tu từ "vườn ai mướt quá" như tiếng reo vui trẻ thơ. Từ "mướt" thật ấn tượng được so sánh với sắc xanh "như ngọc" mang ý nghĩa tượng trưng cho một làng quê yên bình, trù phú.

   - Câu thơ cuối của khổ thơ hiện lên hình ảnh lá trúc thanh tú, mảnh mai và khuôn mặt chữ điền hồn hậu (theo quan niệm thẩm mĩ truyền thống) của ai đó trong nắng mai càng thêm gần gũi. Hình ảnh vừa thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng, có phần hư ảo.

   - Hình ảnh con người bất ngờ xuất hiện trên cái nền thiên nhiên tươi sáng thơ mộng khiến bức tranh cuộc sống thêm nồng ấm qua giọng thơ êm dịu gợi trong lòng người đọc một cảm giác bình yên khi đứng trước bức tranh thơ độc đáo ấy.

III. KẾT BÀI

   - Ngôn ngữ điêu luyện, bút pháp vừa lãng mạn vừa tượng trưng, hình ảnh hiền hòa, đã tạo nên một bức tranh thơ thật đáng yêu về quê hương xứ sở.

   - Bên cạnh những nhà thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viền, Huy Cận... Hàn Mặc Tử đã góp cho "Thơ mới" một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp giàu tính nhân văn.

Lượt xem: 252

Nguồn: vietjack