TÌM HIỂU VỀ TẤN CÔNG TRÊN MẠNG DÙNG KỸ THUẬT DOS DDOS

Gửi bởi: Phạm Thọ Thái Dương vào ngày 2019-10-09 09:48:42 || Kiểu file: PDF

Nội dung tài liệu Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Loading...

Thông tin tài liệu

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP - TÌM
HIỂU VỀ TẤN CÔNG TRÊN
MẠNG DÙNG KỸ THUẬT DOS
DDOS

DISTRIBUTED DENIAL OF SERVICE
(DDOS)
GIỚI THIỆU
Distributed Denial Of Service (DDoS) là kỹ thuật tấn công làm các ISP lo âu, giới hacker
chính thống thì không công nhận DdoS là kỹ thuật tấn công chính thống. Thế nhưng Black hat
đang có rất nhiều ưu thế khi triển khai tấn công bằng kỹ thuật DdoS.
Việc phòng ngừa và ngăn chặn DdoS vẫn còn đang thực hiện ở mức độ khắc phục hậu quả
và truy tìm thủ phạm. Vậy DdoS là gì mà có nhiều yếu tố đặc biệt như vậy? Bài viết này cố gắng
trả lời câu hỏi này dưới lăng kính security. Bố cục bài viết gồm:
 Giới thiệu về DDoS
 Phân tích các loại tấn công kiểu DDoS
 Phân tích các kỹ thuật Anti-DDoS
 Nhân tố con người trong Anti- DDoS
 Một số trường hợp tấn công DDoS
PHẦN I: GIỚI THIỆU VỀ DDOS
1/ Ngày 7/3/2000, yahoo.com đã phải ngưng phục vụ hàng trăm triệu user trên toàn thế
giới nhiều giờ liền. Vài giờ sau, Yahoo đã tìm ra nguyên nhân gây nên tình trạng này, họ đang
phải gánh chịu một đợt tấn công DDoS với quy mô vài ngàn máy tính liên tục gửi hàng triệu
request đến các server dịch vụ làm các server này không thể phục vụ các user thông thường khác
Vài ngày sau, một sự kiện tương tự diễn ra nhưng có phần “ồn ào” hơn do một trong các
nạn nhân mới là hãng tin CNN, amazon.com, buy.com, Zdnet.com, E-trade.com, Ebay.com. Tất
cả các nạn nhân là những gã khổng lồ trên internet thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo Yankke
Group, tổng thiệt hại do cuộc tấn công lên đến 1.2 triệu USD, nhưng không đáng kể bằng sự mất
mát về lòng tin của khách hàng, uy tín của các công ty là không thể tính được.
Làm đảo lộn mọi dự tính, thủ phạm là một cậu bé 15 tuổi người Canada, với nickname
“mafiaboy”. Lại là một thiên tài bẩm sinh như Kevin Mitnick xuất hiện? Không. Mafiaboy chỉ
tìm tòi và download về một số chương trình công cụ của các hacker. Cậu đã dùng một công cụ
DDos có tên là TrinOO để gây nên các cuộc tấn công kiểu DDoS khủng khiếp trên. Một điểm
đáng lưu ý khác là Mafiaboy bị bắt do tự khoe khoang trên các chatroom công cộng, không ai tự
truy tìm được dấu vết của cậu bé này.
Còn rất nhiều gã khổng lồ khác đã gục ngã dưới các cuộc tấn công kiểu DDoS sau đó,
trong đó có cả Microsodt. Tuy nhiên cuộc tấn công trên là điển hình nhất về DDoS, nó nói lên
một đặc điểm chết người của DDoS: “Rất dễ thực hiện, hầu như không thể tránh, hậu quả rất
nặng nề”.
2/ Các giai đoạn của một cuộc tấn công kiểu DdoS:
Bao gồm 3 giai đoạn:
2.1. Giai đoạn chuẩn bị:
- Chuẩn bị công cụ quan trọng của cuộc tấn công, công cụ này thông thường hoạt động
theo mô hình client-server. Hacker có thể viết phần mềm này hay down load một cách dễ dàng,
theo thống kê tạm thời có khoảng hơn 10 công cụ DDoS được cung cấp miễn phí trên mạng (các
công cụ này sẽ phân tích chi tiết vào phần sau)
- Kế tiếp, dùng các kỹ thuật hack khác để nắm trọn quyền một số host trên mạng. tiến hành
cài đặt các software cần thiết trên các host này, việc cấu hình và thử nghiệm toàn bộ attacknetword (bao gồm mạng lưới các máy đã bị lợi dụng cùng với các software đã được thiết lập trên
đó, máy của hacker hoặc một số máy khác đã được thiết lập như điểm phát động tấn công) cũng
sẽ được thực hiện trong giai đoạn này.
2.2 Giai đoạn xác định mục tiêu và thời điểm:
- Sau khi xác định mục tiêu lấn cuối, hacker sẽ có hoạt động điều chỉnh attack-netword
chuyển hướng tấn công về phía mục tiêu.

- Yếu tố thời điểm sẽ quyết định mức độ thiệt hại và tốc độ đáp ứng của mục tiêu đối với
cuộc tấn công.
2.3 Phát động tấn công và xóa dấu vết:
Đúng thời điểm đã định, hacker phát động tấn công từ máy của mình, lệnh tấn công này có
thể đi qua nhiều cấp mói đến host thực sự tấn công. Toàn bộ attack-network (có thể lên đến hàng
ngàn máy), sẽ vắt cạn năng lực của server mục tiêu liên tục, ngăn chặn không cho nó hoạt động
như thiết kế.
- Sau một khoảng thời gian tấn công thích hợp, hacker tiến hành xóa mọi dấu vết có thể
truy ngược đến mình, việc này đòi hỏi trình độ khác cao và không tuyệt đối cần thiết.
3/ Kiến trúc tổng quan của DDoS attack-network:
Nhìn chung DDoS attack-network có hai mô hình chính:
+ Mô hình Agent – Handler
+ Mô hình IRC – Based
Dưới đây là sơ đồ chính phân loại các kiểu tấn công DDoS
DDoS attack-network

Agent -Handler

Client – Handler
Communication

TCP

UDP

IRC - Based

Client – Handler
Communication

ICMP

TCP

UDP

Secret/private channel

Public channel

ICMP

3.1 Mô hình Agent – Handler:
Theo mô hình này, attack-network gồm 3 thành phần: Agent, Client và Handler
 Client : là software cơ sở để hacker điều khiển mọi hoạt động của attack-network
 Handler : là một thành phần software trung gian giữa Agent và Client
 Agent : là thành phần software thực hiện sự tấn công mục tiêu, nhận điều khiển từ
Client thông qua các Handler
Kiến trúc attack-network kiểu Agent – Handler

Attacker

Handler

Agent

Attacker

Handler

Agent

Handler

Agent

Handler

Agent

Agent

Victim
Attacker sẽ từ Client giao tiếp với cc1 Handler để xác định số lượng Agent đang online,
điều chỉnh thời điểm tấn công và cập nhật các Agent. Tùy theo cách attacker cấu hình attacknetwork, các Agent sẽ chịu sự quản lý của một hay nhiều Handler.
Thông thường Attacker sẽ đặt Handler software trên một Router hay một server có lượng
traffic lưu thông nhiều. Việc này nhằm làm cho các giao tiếp giữa Client, handler và Agent khó
bị phát hiện. Các gia tiếp này thông thường xảy ra trên các protocol TCP, UDP hay ICMP. Chủ
nhân thực sự của các Agent thông thường không hề hay biết họ bị lợi dụng vào cuộc tấn công
kiểu DDoS, do họ không đủ kiến thức hoặc các chương trình Backdoor Agent chỉ sử dụng rất ít
tài nguyên hệ thống làm cho hầu như không thể thấy ảnh hưởng gì đến hiệu năng của hệ thống.
3.2 Mô hình IRC – Based:
Internet Relay Chat (IRC) là một hệ thống online chat multiuser, IRC cho phép User tạo
một kết nối đến multipoint đến nhiều user khác và chat thời gian thực. Kiến trúc củ IRC network
bao gồm nhiều IRC server trên khắp internet, giao tiếp với nhau trên nhiều kênh (channel). IRC
network cho phép user tạo ba loại channel: public, private và serect.

Public channel: Cho phép user của channel đó thấy IRC name và nhận được
message của mọi user khác trên cùng channel

Private channel: được thiết kế để giao tiếp với các đối tượng cho phép. Không cho
phép các user không cùng channel thấy IRC name và message trên channel. Tuy
nhiên, nếu user ngoài channel dùng một số lệnh channel locator thì có thể biết được
sự tồn tại của private channel đó.

Secrect channel : tương tự private channel nhưng không thể xác định bằng channel
locator.
Kiến trúc attack-network của kiểu IRC-Base

Attacker

Attacker

IRC NETWORK

Agent

Agent

Agent

Agent

Agent

Victim
IRC – Based net work cũng tương tự như Agent – Handler network nhưng mô hình này sử
dụng các kênh giao tiếp IRC làm phương tiện giao tiếp giữa Client và Agent (không sử dụng
Handler). Sử dụng mô hình này, attacker còn có thêm một số lợi thế khác như:
+ Các giao tiếp dưới dạng chat message làm cho việc phát hiện chúng là vô cùng khó khăn
+ IRC traffic có thể di chuyển trên mạng với số lượng lớn mà không bị nghi ngờ
+ Không cần phải duy trì danh sách các Agent, hacker chỉ cần logon vào IRC server là đã
có thể nhận được report về trạng thái các Agent do các channel gửi về.
+ Sau cùng: IRC cũng là một môi trường file sharing tạo điều kiện phát tán các Agent code
lên nhiều máy khác.
PHẦN II/ PHÂN LOẠI TẤN CÔNG KIỂU DDOS
Nhìn chung, có rất nhiều biến thể của kỹ thuật tấn công DDoS nhưng nếu nhìn dưới góc độ
chuyên môn thì có thể chia các biến thề này thành hai loại dựa trên mụch đích tấn công: Làm cạn
kiệt băng thông và làm cạn kiệt tài nguyên hệ thống. Dưới đây là sơ đồ mô tả sự phân loại các
kiểu tấn công DDoS.

DDoS attack

Bandwith DeleptionDeleption

Amplification
Attack

Flood Attack

UDP

Random
Port
Attack

ICMP

Static
Port
Attack

Spoof
Source
Attack

Resource Deleption

Smuft
attack

Flaggle
Attack

Direct
Attack

Protocol
Exploit
Attack

TCP SYS

Attack

Malformed
Paclket attack

PUSH
+ACK
SYN
Attack

IP @
Attack

IP Packet
Options
Attack

Spoof
source
Attack

Spoof
source
Attack

Spoof
source
Attack

Loop
Attack
Spoof
source
Attack

I/ Những kiểu tấn công làm cạn kiệt băng thông của mạng (BandWith Depletion Attack)
BandWith Depletion Attack được thiết kế nhằm làm tràng ngập mạng mục tiêu với những
traffic không cần thiết, với mục địch làm giảm tối thiểu khả năng của các traffic hợp lệ đến được
hệ thống cung cấp dịch vụ của mục tiêu.
Có hai loại BandWith Depletion Attack:
+ Flood attack: Điều khiển các Agent gởi một lượng lớn traffic đến hệ thống dịch vụ của
mục tiêu, làm dịch vụ này bị hết khả năng về băng thông.
+ Amplification attack: Điều khiển các agent hay Client tự gửi message đến một địa chỉ IP
broadcast, làm cho tất cả các máy trong subnet này gửi message đến hệ thống dịch vụ của mục
tiêu. Phương pháp này làm gia tăng traffic không cần thiết, làm suy giảm băng thông của mục
tiêu.
1/ Flood attack:
Trong phương pháp này, các Agent sẽ gửi một lượng lớn IP traffic làm hệ thống dịch vụ
của mục tiêu bị chậm lại, hệ thống bị treo hay đạt đến trạng thái hoạt động bão hòa. Làm cho các
User thực sự của hệ thống không sử dụng được dịch vụ.
Ta có thể chia Flood Attack thành hai loại:
+ UDP Flood Attack: do tính chất connectionless của UDP, hệ thống nhận UDP message
chỉ đơn giản nhận vào tất cả các packet mình cần phải xử lý. Một lượng lớn các UDP packet
được gởi đến hệ thống dịch vụ của mục tiêu sẽ đẩy toàn bộ hệ thống đến ngưỡng tới hạn.
+ Các UDP packet này có thể được gửi đến nhiều port tùy ý hay chỉ duy nhất một port.
Thông thường là sẽ gửi đến nhiều port làm cho hệ thống mục tiêu phải căng ra để xử lý phân
hướng cho các packet này. Nếu port bị tấn công không sẵn sàng thì hệ thống mục tiêu sẽ gửi ra
một ICMP packet loại “destination port unreachable”. Thông thường các Agent software sẽ dùng
địa chỉ IP giả để che giấu hành tung, cho nên các message trả về do không có port xử lý sẽ dẫn
đến một đại chỉ Ip khác. UDP Flood attack cũng có thể làm ảnh hưởng đến các kết nối xung
quanh mục tiêu do sự hội tụ của packet diễn ra rất mạnh.
+ ICMP Flood Attack: được thiết kế nhằm mục đích quản lý mạng cũng như định vị thiết
bị mạng. Khi các Agent gởi một lượng lớn ICMP_ECHO_REPLY đến hệ thống mục tiêu thì hệ

thống này phải reply một lượng tương ứng Packet để trả lời, sẽ dẫn đến nghẽn đường truyền.
Tương tự trường hợp trên, địa chỉ IP của cá Agent có thể bị giả mạo.
2/ Amplification Attack:
Amplification Attack nhắm đến việc sử dụng các chức năng hỗ trợ địa chỉ IP broadcast của
các router nhằm khuyếch đại và hồi chuyển cuộc tấn công. Chức năng này cho phép bên gửi chỉ
định một địa chỉ IP broadcast cho toàn subnet bên nhận thay vì nhiều địa chỉ. Router sẽ có nhiệm
vụ gửi đến tất cả địa chỉ IP trong subnet đó packet broadcast mà nó nhận được.
Attacker có thể gửi broadcast message trực tiếp hay thông qua một số Agent nhằm làm gia
tăng cường độ của cuộc tấn công. Nếu attacker trực tiếp gửi message, thì có thể lợi dụng các hệ
thống bên trong broadcast network như một Agent.

Attacker/Agent

VICTIM

Amplifier

Amplifier Network System
Có thể chia amplification attack thành hai loại, Smuft va Fraggle attack:
+ Smuft attack: trong kiểu tấn công này attacker gởi packet đến network amplifier (router
hay thiết bị mạng khác hỗ trợ broadcast), với địa chỉ của nạn nhân. Thông thường những packet
được dùng là ICMP ECHO REQUEST, các packet này yêu cầu yêu cầu bên nhận phải trả lời
bằng một ICMP ECHO REPLY packet. Network amplifier sẽ gửi đến ICMP ECHO REQUEST
packet đến tất cả các hệ thống thuộc địa chỉ broadcast và tất cả các hệ thống này sẽ REPLY
packet về địa chỉ IP của mục tiêu tấn công Smuft Attack.
+ Fraggle Attack: tương tự như Smuft attack nhưng thay vì dùng ICMP ECHO REQUEST
packet thì sẽ dùng UDP ECHO packet gởi đếm mục tiêu. Thật ra còn một biến thể khác của
Fraggle attack sẽ gửi đến UDP ECHO packet đến chargen port (port 19/UNIX) của mục tiêu, với
địa chỉ bên gửi là echo port (port 7/UNIX) của mục tiêu, tạo nên một vòng lặp vô hạn. Attacker
phát động cuộc tấn công bằng một ECHO REQUEST với địa chỉ bên nhận là một địa chỉ
broadcast, toàn bộ hệ thống thuộc địa chỉ này lập tức gửi REPLY đến port echo của nạn nhân,

sau đó từ nạn nhân một ECHO REPLY lại gửi trở về địa chỉ broadcast, quá trình cứ thế tiếp diễn.
Đây chính là nguyên nhân Flaggle Attack nguy hiểm hơn Smuft Attack rất nhiều.
II/ Những kiểu tấn công làm cạn kiệt tài nguyên: (Resource Deleption Attack)
Theo định nghĩa: Resource Deleption Attack là kiểu tấn công trong đó Attacker gởi những
packet dùng các protocol sai chức năng thiết kế, hay gửi những packet với dụng ý làm tắt nghẽn
tài nguyên mạng làm cho các tài nguyên này không phục vụ user thông thường khác được.
1/ Protocol Exploit Attack:
+ TCP SYS Attack: Transfer Control Protocol hỗ trợ truyền nhận với độ tin cậy cao nên sử
dụng phương thức bắt tay giữa bên gởi và bên nhận trước khi truyền dữ liệu. Bước đầu tiên, bên
gửi gởi một SYN REQUEST packet (Synchronize). Bên nhận nếu nhận được SYN REQUEST
sẽ trả lời bằng SYN/ACK REPLY packet. Bước cuối cùng, bên gửi sẽ truyên packet cuối cùng
ACK và bắt đầu truyền dữ liệu.
SYS

TCP
Client

TCP
Server

SYN/ACK

Client Port
1024-65535

80

ACK

Service Port
1-1023

Nếu bên server đã trả lời một yêu cầu SYN bằng một SYN/ACK REPLY nhưng không
nhận được ACK packet cuối cùng sau một khoảng thời gian quy định thì nó sẽ resend lại
SYN/ACK REPLY cho đến hết thời gian timeout. Toàn bộ tài nguyên hệ thống “dự trữ” để xử lý
phiên giao tiếp nếu nhận được ACK packet cuối cùng sẽ bị “phong tỏa” cho đến hết thời gian
timeout.
SYS packet with a deliberately fraudulent
(spoofed) source IP return address

Malicious
TCP
Client

Victim
TCP
Server

SYN

?
80

SYS/ACK
Nắm được điểm yếu này, attacker gởi một SYN packet đến nạn nhân với địa chỉ bên gởi là
giả mạo, kết quả là nạn nhân gởi SYN/ACK REPLY đến một địa chỉ khá và sẽ không bao giờ
nhận được ACK packet cuối cùng, cho đến hết thời gian timeout nạn nhân mới nhận ra được
điều này và giải phóng các tài nguyên hệ thống. Tuy nhiên, nếu lượng SYN packet giả mạo đến
với số lượng nhiều và dồn dập, hệ thống của nạn nhân có thể bị hết tài nguyên.

Client

Server

Attacker/Agent

Server

SYN

SYN

SYN/ACK

SYN/ACK
SYN/ACK

ACK

+ PUSH = ACK Attack: Trong TCP protocol, các packet được chứa trong buffer, khi
buffer đầy thì các packet này sẽ được chuyển đến nơi cần thiết. Tuy nhiên, bên gởi có thể yêu
cầu hệ thống unload buffer trước khi buffer đầy bằng cách gởi một packet với PUSH và ACK
mang giá trị là 1. Những packet này làm cho hệ thống của nạn nhân unload tất cả dữ liệu trong
TCP buffer ngay lập tức và gửi một ACK packet trở về khi thực hiện xong điều này, nếu quá
trình được diễn ra liên tục với nhiều Agent, hệ thống sẽ không thể xử lý được lượng lớn packet
gửi đến và sẽ bị treo.
2/ Malformed Packet Attack:
Malformed Packet Attack là cách tấn công dùng các Agent để gởi các packet có cấu trúc
không đúng chuẩn nhằm làm cho hệ thống của nạn nhân bị treo.
Có hai loại Malformed Packet Attack:
+ IP address attack: dùng packet có địa chỉ gởi và nhận giống nhau làm cho hệ điều hành
của nạn nhân không xử lý nổi và bị treo.
+ IP packet options attack ngẫu nhiên hóa vùng OPTION trong IP packet và thiết lập tất cả
các bit QoS lên 1, điều này làm cho hệ thống của nạn nhân phải tốn thời gian phân tích, nếu sử
dụng số lượng lớn Agent có thể làm hệ thống nạn nhân hết khả năng xử lý.
3/ Một số đặc tính của công cụ DdoS attack:
DDoS software Tool
Attack Network
Comminication

Agent Setup

Instalation

Active

Passive

Hide with rootkit

Yes

Encruption

No
TCP

Bugged
website

Protocol

Corrupted
File

OS supported

Agent
Activation
Methods

Actively
Poll
UDP

Unix

Solaris Linux Windows

Live&wait

ICMP

Agent
Handlerl

YES
Private/Serect

IRC
Basedl

No
Public
Backdoor

Trojan

Buffer Overlfow

Client
Handlerl

Agent
Handlerl

None

Có rất nhiều điểm chung về mặt software của các công cụ DDoS attack. Có thể kể ra một
số điểm chung như: cách cài Agent software, phương pháp giao tiếp giữa các attacker, handler và

Agent, điểm chung về loại hệ điều hành hỗ trợ các công cụ này. Sơ đồ trên mô tả sự so sánh
tương quan giữa các công cụ tấn công DDoS này.
3.1/ Cách thức cài đặt DDoS Agent:
Attacker có thể dùng phương pháp active và passive để cài đặt agent software lên các máy
khác nhằm thiết lập attack-network kiểu Agent-Handler hay IRC-based.
- Cách cài đặt Active:
+ Scaning: dùng các công cụ như Nmap, Nessus để tìm những sơ hở trên các hệ thống
đang online nhằm cài đặt Agentsoftware. Chú ý, Nmap sẽ trả về những thông tin về một hệ thống
đã được chỉ định bằng địa chỉ IP, Nessus tìm kiếm từ những địa chỉ IP bất kỳ về một điểm yếu
biết trước nào đó.
+ Backdoor: sau khi tìm thấy được danh sách các hệ thống có thể lợi dụng, attacker sẽ tiến
hành xâm nhập và cài Agentsoftware lên các hệ thống này. Có rất nhiều thông tin sẵn có về cách
thức xâm nhập trên mạng, như site của tổ chức Common Vulnerabilities and Exposures (CVE), ở
đây liệt kê và phân loại trên 4.000 loại lỗi của tất cả các hệ thống hiện có. Thông tin này luôn sẵn
sàng cho cả giới quản trị mạng lẫn hacker.
+ Trojan: là một chương trình thực hiện một chức năng thông thường nào đó, nhưng lại có
một số chức năng tiềm ẩn phục vụ cho mục đích riêng của người viết mà người dùng không thể
biết được. Có thể dùng trojan như một Agent software.
+ buffer Overflow: tận dụng lỗi buffer overflow, attacker có thể làm cho chu trình thực thi
chương trình thông thường bị chuyển sang chu trình thực thi chương trình của hacker (nằm trong
vùng dữ liệu ghi đè). Có thể dùng cách này để tấn công vào một chương trình có điểm yếu buffer
overflow để chạy chương trình Agent software.
- Cách cài đặt passive:
+ Bug Website: attacker có thể lợi dụng một số lỗi của web brower để cài Agent software
vào máy của user truy cập. Attaker sẽ tạo một website mang nội dung tiềm ẩn những code và
lệnh để đặt bẫy user. Khi user truy cập nội dung của website, thì website download và cài đặt
Agent software một cách bí mật. Microsoft Internet Explorer web browser thường là mục tiêu
của cách cài đặt này, với các lỗi của ActiveX có thể cho phép IE brower tự động download và cài
đặt code trên máy của user duyệt web.
+ Corrupted file: một phương pháp khác là nhúng code vào trong các file thông thường.
Khi user đọc hay thực thi các file này, máy của họ lập tức bị nhiễm Agent software. Một trong
những kỹ thuật phổ biến là đặt tên file rất dài, do default của các hệ điều hành chỉ hiển thị phần
đầu của tên file nên attacker có thể gửi kèm theo email cho nạn nhân file như sau:
iloveyou.txt_hiiiiiii_NO_this_is_DDoS.exe, do chỉ thấy phần “Iloveyou.txt” hiển thị nên user sẽ
mở file này để đọc và lập tức file này được thực thi và Agent code được cài vào máy nạn nhân.
Ngoài ra còn nhiều cách khác như ngụy trang file, ghép file…
- Rootkit: là những chương trình dùng để xóa dấu vết về sự hiện diện của Agent hay
Handler trên máy của nạn nhân. Rootkit thường được dùng trên Hander software đã được cài,
đóng vai trò xung yếu cho sự hoạt động của attack-network hay trên các môi trường mà khả năng
bị phát hiện của Handler là rất cao. Rootkit rất ít khi dùng trên các Agent do mức độ quan trọng
của Agent không cao và nếu có mất một số Agent cũng không ảnh hưởng nhiều đến attacknetwork.
3.2/ Giao tiếp trên Attack-Network:
- Protocol: giao tiếp trên attack-network có thể thực hiện trên nền các protocol TCP, UDP,
ICMP.
- Mã hóa các giao tiếp: một vài công cụ DDoS hỗ trợ mã hóa giao tiếp trên toàn bộ attacknetwork. Tùy theo protocol được sử dụng để giao tiếp sẽ có các phương pháp mã hóa thích hợp.
Nếu attack-network ở dạng IRC-based thì private và secrect channel đã hỗ trợ mã hóa giao tiếp.
- Cách kích hoạt Agent: có hai phương pháp chủ yếu để kích hoạt Agent. Cách thứ nhất là
Agent sẽ thường xuyên quét thăm dó Handler hay IRC channel để nhận chỉ thị (active Agent).
Cách thứ hai là Agent chỉ đơn giản là “nằm vùng” chờ chỉ thị từ Handler hay IRC Channel.