loading
back to top

Phân tích tác phẩm đây thôn vĩ dạ của Hàn Mạc Tử

Chia sẻ: hoangkyanh0109 | Ngày: 2017-01-19 14:41:00 | Trạng thái: Được duyệt

Chủ đề: đây thôn vĩ dạ    Hàn Mạc Tử   

529
Lượt xem
6
Tải về





Bên trên chỉ là 1 phần trích dẫn trong tài liệu để xem hết tài liệu vui lòng tải về máy. Phân tích tác phẩm đây thôn vĩ dạ của Hàn Mạc Tử

Phân tích tác phẩm đây thôn vĩ dạ của Hàn Mạc Tử

Phân tích tác phẩm đây thôn vĩ dạ của Hàn Mạc Tử




Tóm tắt nội dung

Phân tích tác phẩm đây thôn vĩ dạ của Hàn Mạc Tử

Nội dung tài liệu
doc24.vnPHÂN TÍCH TÁC PHẨM "ĐÂY THÔN VĨ DẠ" CỦA HÀN MẶC TỬ1. Cuộc hành hương về Vĩ Dạa) Trong các nhà thơ mới, Hàn Mặc Tử phải là người bất hạnh nhất, lạ nhất và phức tạpnhất. Vì thế cũng bí ẩn nhất. Có ai định tranh chấp với Tử những cái "nhất" ấy không? Ví Tử vớingôi sao chổi, Chế Lan Viên đã thật có lí. Và cũng như thái độ dành cho một ngôi sao chổi quá lạ,bao ống kính thiên văn đã đua nhau chĩa về Hàn Mặc Tử. Tiếc thay, cái vừng sáng vừa trong trẻo,vừa chói lói, vừa ma quái phát ra từ ngôi sao có sức cuốn hút bao nhiêu cũng có sức xô đẩy bấynhiêu. Đến nay đã có bao cuộc thăm dò, thám hiểm. Với một hiện tượng "bấn loạn" nhường này,ướm đi ướm lại, người ta thấy tiện nhất là xếp vào loại siêu: nào siêu thực, siêu thức, nào siêuthoát v.v...Vậy mà, nào đã thoát! Rốt cuộc, lơ lửng treo phía trước vẫn cứ còn đó câu hỏi: Hàn MặcTử, anh là ai?Ngày trước, cuộc xung đột "bách gia bách ý" chỉ xảy ra với Hàn Mặc Tử, nói chung. "Đâythôn Vĩ Dạ" vẫn hưởng riêng một không khí thái bình. Phải đến khi được mạnh dạn tuyển vàochương trình phổ thông cải cách, sóng gió mới ập đến cái thôn Vĩ bé bỏng của Tử. Thế mới biết,chả hồng nhan nào thoát khỏi truân chuyên! Có người hạ bệ bằng cách chụp xuống một lí lịch đentối. Người khác đã đem tới một cái bóng đè. Không ít người thẳng tay khai trừ "Đây thôn Vĩ Dạ"khỏi danh sách những kiệt tác thuộc phần tinh chất của hồn thơ Tử...Ngay những kiến đồng lòng tôn vinh thi phẩm này cũng rất phân hoá. Người si mê thấyđó chỉ là tỏ tình (với Hoàng Cúc). Người vội vàng bảo rằng tả cảnh (cảnh Huế và người Huế).Người khôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu tình quê. Kẻ bảo hướng ngoại. Người khăngkhăng hướng nội. Lắm người dựa hẳn vào mối tình Hoàng Cúc như một bảo bối để tham chiến.Người khác lại dẹp béng mảng tiểu sử với cái xuất xứ không ít quan trọng ấy sang bên để chỉ độtphá vào văn bản không thôi. Người khác nữa lại hoàn toàn "dùng ngoài hiểu trong, dùng chunghiểu riêng", ví như dùng lí sự chung chung về cái tôi lãng mạn và tâm trạng lãng mạn để áp đặtdoc24.vnvào một trường hợp rất riêng này... Tôi tin Hàn Mặc Tử không bác bỏ hẳn những cực đoan ấy.Nếu sống lại, thi nhân sẽ mỉm cười độ lượng với mọi kiến vì quá yêu Vĩ Dạ bằng những cáchriêng tây mà nghiêng lệch thôi. toàn thể là thế. Mà chi tiết cũng không phải là ít chuyện.Ngay một câu "Lá trúc che ngang mặt chữ điền" cũng gây tranh cãi.Cái màn "sương khói" làm "mờ nhân ảnh" là Vĩ Dạ hay thuộc chốn người thi sĩ đangchịu bất hạnh, cũng gây bất đồng... Hèn chi, hai tờ báo nhiều liên quan đến nhà trường và vănchương là Giáo dục Thời đại và Văn nghệ được phen chịu trận. Dù muốn hay không, nó cũngđã thành một "vụ" thực sự thời bấy giờ. Đến nay, khó mà nói các kiến đã chịu nhau. Tình hìnhxem ra khá mệt mỏi, khó đặt được dấu chấm hết. Hai báo đành thổi còi thu quân với vài lời tiểukết nghiêng về "điểm danh". Một độ sau, nhà giáo-nhà nghiên cứu Văn Tâm khi soạn cuốn Giảngvăn văn học lãng mạn (NXB Giáo Dục, 1991) đã điểm sâu hơn.Rồi nhà biên soạn này cũng nhanh chóng trở thành một kiến thêm vào cái danh sách dàidài đó. Cuộc hành hương về Vĩ Dạ lại tiếp tục đua chen. Khói hương và cả khói lửa, vì thế, trànlan ra nhiều báo khác, sang tận tờ Tập văn thành đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam [1], độngđến cả những người Hoa Kỳ, Canada...Chắc là hiếm có bài thơ nào trong trẻo thế mà cũng bí ẩn đến thế. Xem ra, cái chúng ta "gỡgạc" được mới thuộc phần "dễ dãi" nhất đó thôi!b) Phải nói ngay rằng: coi một tác phẩm đã gắn làm một với cái tên Hàn Mặc Tử lại khôngtiêu biểu cho tinh chất của hồn thơ Tử, thì kì thật. Mỗi bài thơ hay, nhất là những tuyệt tác, baogiờ cũng có "mạng vi mạch" nối với tinh hoa tinh huyết của hồn thơ ấy. Có điều nó đã được dòtìm ra hay chưa thôi. Thậm chí, một hệ thống kiến giải mới về hiện tượng Hàn Mặc Tử sẽ khóđược coi là thuyết phục, một khi chưa thử sức "Đây thôn Vĩ Dạ". Đã đến lúc phải lần ra "mạngvi mạch" của thi phẩm cùng tinh hoa tinh huyết của thi sĩ. Trong cảm thụ nghệ thuật, mọi việckhác không thể thay thế việc dùng trực cảm thâm nhập vào bản thân tác phẩm. Nhưng việc độctôn một chiều với nguyên tắc ấy đây đã tỏ ra không mấy hi vọng, nếu không nói là trở nên kémthiêng. Thôn Vĩ Dạ dường vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt", cự tuyệt ngay cả những linh khiếu vốncả tin vào một trực giác đơn thuần. Vĩ Dạ vẫn điềm nhiên giấu kín ngay trong sự trong trẻo kiabao bí ẩn của nó. Muốn đến đúng chỗ giấu vàng của Thôn Vĩ, trực cảm nhất thiết phải được trangdoc24.vnbị thêm một "sơ đồ chỉ dẫn", một chìa khoá. Những thứ này, tiếc rằng, cũng giấu mình khắp trongthơ Hàn Mặc Tử. Nói cách khác, mỗi tác phẩm sống trong đời như một sinh mệnh riêng, tự lập.Có một thân phận riêng, một giá trị riêng, tự thân. Đọc văn, căn cứ tin cậy nhất, trước sau, vẫn làvăn bản tác phẩm. Đó là một nguyên tắc. Và nhiều khi không biết gì về tác giả, vẫn có thể cảmnhận được tác phẩm. Nhưng hiểu và hiểu thấu đáo là hai cấp độ. Không am tường tác giả thì khómà thấu đáo tác phẩm. Trường hợp trong trẻo mà đầy bí ẩn như "Đây thôn Vĩ Dạ", với một vịthân sinh đầy phức tạp như Hàn Mặc Tử càng cần phải thế. Nghĩa là: thiếu cái nhìn liên văn bản,cùng những khám phá về thân phận, tư tưởng và thi pháp của tác giả sẽ khó giúp ta soi sáng đượcthi phẩm này.Trong nhiều điều cần cho sự soi sáng thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, không thể không nóiđến một tình yêu tuyệt vọng, lối Thơ Điên và lớp trầm tích những biểu tượng và ngôn ngữ thuộchệ thống thi pháp của thi sĩ này. Nếu tình yêu tuyệt vọng quyết định đến điệu tình cảm chung, thìlối Thơ Điên quyết định trình tự cấu tứ, cơ cấu không gian. Trong khi lớp biểu tượng và ngôn ngữở tầng trầm tích lại quyết định đến hệ thống hình tượng, hình ảnh của thi phẩm đặc sắc này.2. Vĩ Dạ trong Đau thương và Thơ điêna) Ai đã đọc Hàn Mặc Tử hẳn phải thấy rằng tập thơ quan trọng nhất của thi sĩ chính làĐau thương. Thực ra ban đầu Hàn Mặc Tử đã đặt cho nó một tên khác, dễ sợ hơn: Thơ điên. Haicái tên có thể hoán cải cho nhau, là một điều đáng để cho ta lưu ý. Nó nói rằng Tử thức rất sâusắc về mình. Thì Đau thương và Điên chính là Hàn Mặc Tử vậy.Đau thương là cội nguồn sáng tạo, còn Điên là hình thức của sáng tạo ấy. Đọc ra điều nàykhông khó, nhưng nhận diện bản chất của Đau thương lại không dễ. Chả thế mà người ta cứ đánhđồng "đau đớn thân xác" với "đau khổ tinh thần", và cứ coi Điên chỉ giản đơn là một trạng tháibệnh lí.Ngẫm tới cùng Đau thương chính là một tình yêu tuyệt vọng. Ta thường tự cầm tù trongđịnh kiến về tuyệt vọng. Thực ra, tuyệt vọng chả như ta vẫn tưởng. Không phải nỗi tuyệt vọngnào cũng làm cho con người gục ngã. Còn có nỗi tuyệt vọng làm tình yêu thăng hoa. Tuyệt vọngcó thể chấm dứt hi vọng, nhưng không chấm dứt tình yêu. Càng mãnh liệt càng tuyệt vọng, càngdoc24.vntuyệt vọng càng mãnh liệt. Con người ta đi đến tuyệt vọng có thể vì những nguyên uỷ rất riêngtây kín khuất, đôi khi ta bất khả tri (một thiếu hụt, tổn thương, một mất mát nào đó trong tâm thể,chẳng hạn!). Hàn Mặc Tử có lẽ thuộc số đó. Ai cũng biết chết là một cuộc chia lìa tất yếu và đángsợ. Sống có nghĩa là đang chia lìa. Nhưng, may thay, hết thảy chúng ta đều có khả năng quên đimà vui sống. Còn những người như Tử lại không được trời phú cho cái khả năng quên. Càngmắc những bệnh trầm trọng lại càng ám ảnh. Sống trong dự cảm khôn nguôi về thời khắc chia lìa,Tử thường tự đẩy mình (giời xô đẩy thì đúng hơn) đến điểm chót cùng của tuyệt vọng để nuốiđời, níu đời. Nói khác đi, Tử làm thơ bên miệng vực của nỗi chết. Không ai yêu sống, yêu đời hơnmột người sắp phải lìa bỏ cuộc sống! Thơ Tử là tiếng nói của niềm yêu ấy. Và trong lăng kính lạlùng của niềm yêu ấy, cảnh sắc trần gian này thường ánh lên những vẻ khác thường: lộng lẫy,rạng rỡ, thanh khiết hơn bao giờ hết. Mà càng đẹp, càng tuyệt vọng càng tuyệt vọng, lại càngđẹp! Thế là Đau thương chứ sao! Đau thương không chỉ là cung bậc mà còn chính là dạng thứccảm xúc đặc thù của Hàn Mặc Tử. Mỗi lần cầm bút khác nào một lần nói lời tuyệt mệnh, lờinguyện cuối. Cho nên mỗi lời thơ Tử thực là một lời bày tỏ da diết đến đau đớn của một tình yêutuyệt vọng. Và như thế, điều oái oăm đã hình thành: Tuyệt vọng đã trở thành một cảm quan, mộtcách thế yêu đời đặc biệt của Hàn Mặc Tử.Có thể nói, đó là nghịch lí đau xót của một thân phận. Và nghịch lí này lại cũng là cấu trúccủa tiếng nói trữ tình Hàn Mặc Tử: niềm yêu là một nỗi đau, mỗi vẻ đẹp là một sự tuyệt vọng,cảnh sắc lộng lẫy chỉ là phía sáng của tấm tình tuyệt vọng. thức rõ về điều này, nên trong bàithơ viết cho Thanh Huy một người tình trong mộng Tử đã tự họa bằng cặp hình ảnh nghịch lítrớ trêu: Mắt mờ lệ sau hàng chữ gấm. Thơ Tử là thế! Hàng chữ gấm (trong trẻo, tươi sáng) chỉlà phía thấy được của đôi mắt mờ lệ (u ám, đau thương) khuất chìm phía sau mà thôi.Kết tinh từ nguồn thơ lạ lùng oan trái đó, "Đây thôn Vĩ Dạ" là lời tỏ tình với cuộc đời củamột niềm đau thương, một tình yêu tuyệt vọng. Nói đến một thi phẩm chân chính là phải nói đếnđiệu cảm xúc riêng của nó. Mà âm điệu chính là cái điệu tâm hồn, điệu cảm xúc của thi sĩ đượchình thức hoá. Đọc thơ, nắm được âm điệu của nó xem như đã nắm được hồn vía của thơ rồi.Không cần phải cố gắng lắm người ta cũng thấy ngay mỗi khổ của "Đây thôn Vĩ Dạ" đều vangdoc24.vnlên trong âm hưởng của một câu hỏi. Ba khổ là những câu hỏi kế tiếp, càng về sau càng da diết,khắc khoải:Sao anh không về chơi thôn Vĩ?Nhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọcLá trúc che ngang mặt chữ điền...Thuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay?...Ở đây sương khói mờ nhân ảnhAi biết tình ai có đậm đà?Âm điệu của những câu hỏi ấy được cất lên từ một niềm thiết tha với cuộc đời đến mứcthương tâm của một hồn đau. bài thơ vốn được xem là kiệt tác này, niềm yêu đau đáu đến tuyệtvọng còn hoá thân thành một mặc cảm sâu xa, thấm đẫm vào toàn thể thi phẩm: mặc cảm chia lìa.Trước tiên, nó quyết định đến hình ảnh cái Tôi của thi sĩ, đồng thời nó đổ bóng xuống cảm quankhông gian của Hàn Mặc Tử, nó dàn dựng nên các tương quan không gian của "Đây thôn VĩDạ".Đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác và tâm thế sáng tạo bấy giờ của thi sĩ, ta có thể thấynhững điều ấy rõ hơn. Sau khi mắc bệnh nan y, Hàn Mặc Tử đã coi mình như một cung nữ xấu số bị số phận oannghiệt đày vào lãnh cung. Ấy là lãnh cung của sự chia lìa (tôi không nhằm nói đến Gò Bồi hayQui Hoà, bởi đó chỉ là hai địa chỉ hạn hẹp trong cái lãnh-cung-định-mệnh ấy thôi). Cơ hội về lạicuộc đời cơ hồ không còn nữa. Vô cùng yêu đời, thiết tha bao luyến mọi người, vậy mà Tử đã chủđộng cách li, quyết định tuyệt giao với tất cả. Nhưng tuyệt giao chứ không phải tuyệt tình. Thậmchí, càng tuyệt giao, tình nhớ thương càng mãnh liệt hơn bao giờ hết. Hằng ngày trong cái lãnhcung ấy, Tử thèm khát thế giới ngoài kia: Ngoài kia xuân đã thắm hay chưa? Trời trong đâydoc24.vnchẳng có mùa Không có niềm trăng và nhạc Có nàng cung nữ nhớ thương vua. Chủ độngtuyệt giao chỉ là biểu hiện lộn ngược của lòng thiết tha gắn bó. Hễ tiễn một ai đến thăm mình vềlại Ngoài kia thì chẳng khác nào tiễn người từ chốn lưu đày vĩnh viễn về lại cuộc đời, thậm chínhư tiễn người từ cõi này về cõi khác. Một nửa hồn mình coi như đã chết theo: Họ đã đi rồi khônníu lại Lòng thương chưa đã mến chưa bưa Người đi một nửa hồn tôi mất Một nửa hồn tôibỗng dại khờ. Từ bấy trong thơ Tử hình thành hai không gian với sự phân định nghiệt ngã: Ngoàikia và Trong này. Nó là sự cách nhau của hai cõi, mà khoảng cách bằng cả một tầm tuyệt vọng -Anh đứng cách xa nghìn thế giới Lặng nhìn trong mộng miệng em cười Em cười anh cũng cườitheo nữa Để nhắn lòng anh đã tới nơi. Đọc thơ Hàn, dễ thấy Ngoài kia và Trong này (hay đây)là hai thế giới hoàn toàn tương phản. Ngoài kia: mùa xuân, thắm tươi, đầy niềm trăng, đầy nhạc,tràn trề ánh sáng, là cuộc đời, trần gian, là sự sống, hi vọng, hạnh phúc... Trong này: chẳng cómùa, không ánh sáng, không trăng, không nhạc, âm u, mờ mờ nhân ảnh, là lãnh cung, là trời sâu,là địa ngục, bất hạnh... Trong này chỉ về lại được Ngoài kia bằng ước ao thầm lén, bằng khắckhoải tuyệt vọng mà thôi.Tấm thiếp phong cảnh của Hoàng Cúc gửi vào lập tức đánh động khát vọng về Ngoài kiatrong hồn Tử. Thôn Vĩ Dạ hiện lên như một địa danh khởi đầu, một địa chỉ cụ thể của Ngoài kia.Nói khác đi. Ngoài kia trong cái giờ khắc ấy đã hiện lên bằng gương mặt Vĩ Dạ. Thèm về thăm VĩDạ cũng là thèm khát về với Ngoài kia, về với cuộc đời, với hạnh phúc trần gian. Nghĩa là trong ýthức sáng tạo của Hàn Mặc Tử, Vĩ Dạ vừa là một địa danh cụ thể vừa được tượng trưng hoá [2].Trong văn bản của thi phẩm này, có thể thấy tương quan không gian như thế hai nơi chốn: "thônVĩ" (Ngoài kia) và "ở đây" (Trong này). Hình tượng cái Tôi thi sĩ hiện ra như một người đang "ởđây", trong này mà khắc khoải ngóng trông hoài vọng về "thôn Vĩ", về Ngoài kia. Đó là hìnhảnh một cá thể nhỏ nhoi tha thiết với đời mà đang phải lìa bỏ cuộc đời, đang bị số phận bỏ rơi bêntrời quên lãng, đang chới với trong cô đơn, đang níu đời, nuối đời. Đây thôn Vĩ Dạ chẳng phải làlời tỏ tình với thế giới Ngoài kia của kẻ đang bị lưu đày Trong này hay sao? Chẳng phải lời tỏtình ấy càng vô vọng lại càng mãnh liệt, càng mãnh liệt lại càng thêm vô vọng hay sao?b) Đau thương đã tìm đến "thơ điên" như một hình thức đặc thù đối với Hàn Mặc Tử, nhấtlà giai đoạn sau [2]. Sẽ không quá lời khi nói rằng Tử đã buộc chúng ta phải xét lại cái quandoc24.vnniệm hẹp hòi lâu nay về "điên" và "thơ điên". Ta quen thấy điên chỉ như một trạng thái bệnh lí màquên hẳn rằng còn có điên như một trạng thái sáng tạo.Có không ít người làm thơ cố học đòi thơ điên như chạy theo một thứ mốt tân kì, nên chỉ làcách làm ra điên của những người tỉnh queo. Còn điên Hàn Mặc Tử là trạng thái đau thươngbên trong đang chuyển hoá thành sáng tạo. Cảm xúc tuyệt vọng, oái oăm thay, lại trở thành hưngphấn sáng tạo. Một hưng phấn cực điểm, thái quá, khiến tâm tư xé rào vượt ra khỏi những lối đi,những biên giới thông thường. Thi hứng đến như một cơn sốc, sáng tạo như lên đồng. Chính Hàncũng tự thức rõ về trạng thái này: "Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếngrú(...) Nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ, tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôihết sức giữ bí mật. Và cũng có nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên..." (Tựa "Thơ điên"). Ra đờinhư vậy "Thơ điên" thường có những đặc trưng: a) là tiếng nói của đau thương với nhiều biểuhiện phản trái nhau; b) chủ thể như một cái Tôi li-hợp bất định; c) một kênh hình ảnh kì dị kinhdị; d) mạch liên kết siêu logic; e) lớp ngôn từ cực tả. Với những đặc trưng ấy (đặc biệt là điểm d)đã khiến cho mỗi bài thơ khác nào những xao động tâm linh được tốc kí trọn vẹn. Những vẻ"điên" này hiện ra trong các bài thơ thành dòng tâm tư bất định. Đặc tính này không khó nhận ra,nếu tác giả viết thơ tự do. Nhưng những bài được viết thành những khổ tề chỉnh, vuông vức,tròn trịa, thì việc nhận biết khó hơn nhiều. Có hình dung như vậy mới thấy "Đây thôn Vĩ Dạ" vẫncứ là "thơ điên" theo đúng nghĩa. Không có những hình ảnh kì dị ma quái, những tiếng kêu kinhdị, nhưng mạch liên kết toàn bài thì rõ ra là "đứt đoạn", "cóc nhảy" [3]. Mạch thơ như một dòngtâm tư bất định, khước từ vai trò tổ chức chặt chẽ của lí trí. Nhìn từ văn bản hình tượng, có thểthấy thi phẩm được dệt bằng một chuỗi hình ảnh liên kết với nhau rất bất định. Vừa mới ngoạicảnh (phần đầu) thoắt đã tâm cảnh (phần sau); hãy còn tươi sáng (Vườn thôn Vĩ) chợt đã âm u(cảnh sông trăng và sương khói)... Những mảng thơ phản trái nhau cứ dính kết vào nhau ngỡ nhưrất thiếu trật tự, "vô kỉ luật". Nhưng nhìn kĩ sẽ thấy đó chỉ là sự chuyển kênh quá mau lẹ từ "hàngchữ gấm" sang "đôi mắt mờ lệ" đó thôi. Nhìn từ mạch cảm xúc, cũng thấy có những gấp khúc,khuất khúc với những phía chợt sáng chợt tối như vậy. Khổ đầu: một ước ao thầm kín ngấm ngầmbên trong lại cất lên như một mời mọc từ bên ngoài, nỗi hoài niệm vốn âm lại mang gương mặtcủa khát khao rực rỡ; khổ hai: một ước mong khẩn thiết dâng lên thoắt hoá thành một hoài vọngdoc24.vnchới với; khổ ba: một niềm mong ngóng vừa ló rạng đã vội hoá thành một mối hoài nghi. Nhìn từcấu trúc không gian, cũng thấy bài thơ có sự chuyển tiếp không gian rất tinh vi, kín mạch, khôngdễ nhận ra. Trong phần sâu của nội dung, có thể thấy ba cảnh chính: vườn xa, thuyền xa, kháchđường xa. Chúng hợp thành cái thế giới Ngoài kia để đối lập với đây. Như sự đối lập quái ácgiữa cuộc đời và lãnh cung, trần gian tươi đẹp và trời sâu ảm đạm, sống và không sống, gắn bó vàchia lìa... Khổ một còn thôn Vĩ Ngoài kia, khổ hai rồi phần đầu khổ ba nữa vẫn là Ngoài kia,đến cuối khổ ba thì đã bay vụt vào Trong này, đã đây rồi. Nó là chốn nào vậy? Còn chốn nàokhác, ngoài cái nơi Tử đang bị căn bệnh tàn ác ấy hành hạ? Chẳng phải đó là sự chuyển tiếp lối"cóc nhảy" rất đặc thù của "liên tưởng thơ điên" đó sao? Điều đáng nói là: nếu lối liên tưởng đứtđoạn bất định của "thơ điên" tạo ra sự chuyển làn các cảnh sắc, các miền không gian một cách độtngột đến tưởng như phi lí, thì âm điệu tự nhiên nhuần nhuyễn của cùng một mối hoài, trongcùng một lối thơ chia thành các khổ vuông vức tề chỉnh lại đã san lấp, phủ kín hoàn toàn nhữngquãng đứt nối, khiến người đọc cứ mặc nhiên coi rằng bài thơ là sự nới rộng cùng một không gianVĩ Dạ, mà không thấy rằng đó là sự ghép nối rất bất chợt, xuất thần giữa các vùng không gian vốngóc biển chân trời ("thôn Vĩ" là Ngoài kia, còn "ở đây" là Trong này). Theo tài liệu đáng tin cậymới đây của Phạm Xuân Tuyển, trong cuốn Đi tìm chân dung Hàn Mạc Tử, Nxb. Văn học 1997,thì bài thơ vốn có tên đầy đủ là "Ở đây thôn Vĩ Dạ". Bấy giờ, Tử đang tuyệt giao với tất cả, đến ởmột chốn hoang liêu mạn Gò Bồi, cách li hoàn toàn với bên ngoài để chữa bệnh. Theo đó thì, cáinơi chốn "Ở đây sương khói mờ nhân ảnh" lại càng là sự biểu hiện trực tiếp của chốn "trời sâu"bất hạnh mà Tử đang bị lưu đày "Tôi đang còn đây hay đâu? Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu? /Sao bông phượng nở trong màu huyết Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?". Có hiểu như thế tamới thấy lối biểu hiện phức tạp của "thơ điên" và tình yêu tuyệt vọng đầy uẩn khúc của Hàn MặcTử.Tóm lại, nếu mạch "liên tưởng điên" tạo ra một văn bản hình tượng có vẻ "đầu Ngô mìnhSở", thì dòng tâm tư bất định lại chuyển lưu thành một âm điệu liền hơi. Hệ quả là: dòng hình ảnhthì tán lạc, nhưng dòng cảm xúc lại liền mạch. Bởi thế Đây thôn Vĩ Dạ vẫn là một phẩm "thơđiên". Đó là phi logic bề mặt nhưng lại nguyên phiến, nguyên điệu bề sâu. Tất cả vẫn khiếndoc24.vncho thi phẩm là một nguyên khối. Vì thế, vào cõi thơ Hàn Mặc Tử, không chỉ cần chú mục vàophần "lộ thiên", mà cần đào rất sâu vào tầng "trầm tích" nữa! Chú thích:[1] số PL 2535, tác giả Võ Đình Cường đã công bố một tư liệu quan trọng liên quanđến cách hiểu bài thơ này: Bức thiếp phong cảnh Tử nhận được không phải là ảnh Hoàng Cúctrong tà áo dài trắng nữ sinh Đồng Khánh… Điều này cho thấy việc trói chặt nội dung bài thơvào sự kiện Hoàng Cúc là vô lối. [2] Có thể các nhà thơ thuộc Trường Thơ Loạn ít nhiều ảnh hưởng quan niệm "thơđiên" thuộc chặng cuối của thi phái Tượng trưng Pháp, mà người đại diện là Mallarme… RiêngHàn Mặc Tử đến với "thơ điên" chủ yếu là do logic nội tại.[3] Các kiến của Vũ Quần Phương (trong Thơ với lời bình), Lê Quang Hưng (trong Tácphẩm Văn học) và Nguyễn Hữu Tuyển (trong Nỗi oan cần được giải) đều nhận xét rằng: "bềngoài câu chữ tưởng như rất lỏng lẻo chẳng ăn nhập gì" (Văn nghệ phụ san số 5.1990)3. Bước vào thi phẩma) Dù là "thơ điên" hay thơ gì chăng nữa, một khi đã là một thi phẩm dành được chỗ đứngtrang trọng trong kí ức của người đọc nhiều thế hệ, thì dứt khoát phải nhờ vào vẻ đẹp tư tưởngcủa nó. Mà lõi cốt của tư tưởng ấy không thể là gì khác hơn một quan niệm nào đó về cái đẹp. Sựtương phản giữa hai miền không gian vừa nói trên đây Đây thôn Vĩ Dạ, không chỉ là mặc cảmcủa một con người đang phải chia lìa với cuộc đời. Sâu sắc hơn, thấm thía hơn, đó còn là mặccảm của một thi sĩ đang phải ngày một lìa xa cái đẹp mà mình hằng khao khát, tôn thờ. Ai đã đọcHàn Mặc Tử hẳn phải thấy rằng chuẩn mực quan trọng nhất của cái đẹp theo quan niệm của Tửchính là sự thanh khiết. Điều này vừa có nguồn gốc từ trong nhỡn quan của một thi sĩ trước cuộcđời, vừa từ tín niệm tôn giáo của một kẻ mộ đạo. cảnh vật, nó hiện ra thành vẻ thanh tú (thiênnhiên lí tưởng theo Tử phải là "chốn nước non thanh tú"). con người, nó hiện ra trong vẻ trinhkhiết (đầy đủ là "trinh khiết mà xuân tình"). Quan niệm về cái đẹp như thế đã chi phối ngòi bútHàn Mặc Tử khi thể hiện con người và thiên nhiên. Trong thi phẩm này có sự hiện diện củanhững hình tượng cơ bản Vườn thôn Vĩ, Sông trăng thuyền trăng, Khách đường xa đều là nhữngbiểu hiện sống động của của vẻ đẹp thanh khiết đó. Trong mặc cảm chia lìa, tất cả những vẻ đẹpdoc24.vnkia đều khiến Tử lâm vào tuyệt vọng. Và đương nhiên, Tử đã cảm nhận chúng qua lăng kính củaniềm tuyệt vọng. Có thể trường hợp Tử là một minh chứng đáng sợ cho định nghĩa về cái đẹp củaPôn Valeri: Cái đẹp là cái làm ta tuyệt vọng. Mặc cảm chia lìa đây, dường như, đã hiện ra trongcảm giác về một thực tại xa vời, một hiện tại quá ngắn ngủi và sự tồn tại mong manh của mình.Không chỉ thấm vào hơi thơ, giọng thơ khiến cho cả mạch thơ được phổ một âm điệu da diết khắckhoải thật ám ảnh, mà trước tiên, mặc cảm chia lìa với các cảm giác éo le kia đã hoá thân vàotừng hình ảnh, từng cảnh sắc của thi phẩm này.b) Hãy đi vào từng khổ.Câu mở đầu: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? là một câu hỏi nhiều sắc thái: vừa hỏi, vừanhắc nhớ, vừa trách, vừa mời mọc. Giờ đây chẳng ai còn ấu trĩ gán cho nó là câu hỏi của HoàngCúc hay của một cô gái nào thôn Vĩ nữa. Bởi, là đằng này thì vô lí không đúng sự thực, làđằng kia thì vô tình viết để tạ lòng Hoàng Cúc mà lại nghĩ đến cô khác ư? [5] Vả chăng, đâu chỉcó một câu hỏi này. Toàn bài có tới ba câu hỏi. Cả ba đều cùng một chủ thể. Trên kia đã phần nàonói đến việc bài thơ được viết thành ba khổ trên âm điệu chủ đạo của những câu hỏi buông ra,buột lên, không lời đáp. Thực ra, câu hỏi chỉ là hình thức bày tỏ. Nó không đợi trả lời để thànhđối thoại. Nó cứ buông ra thế để thành dòng độc thoại bộc bạch tâm tình. Ngữ điệu hỏi càng vềsau càng khắc khoải hơn, hoài hơn. Và, nhờ ngữ điệu nhất quán ấy, mà ba cảnh sắc ba khổ thơvốn đứt đoạn, "cóc nhảy" đã được xâu chuỗi lại tự nhiên khăng khít. Đó là Tử đang phân thân đểtự hỏi chính mình. Hỏi mà như nhắc đến một việc cần làm, đáng phải làm, mà chẳng biết giờ đâycó còn cơ hội để thực hiện nữa không. Ấy là về lại thôn Vĩ, thăm lại chốn cũ, cảnh xưa. Ta đềubiết tuổi nhỏ Tử đã từng học trường Pellerin Huế, và khi in xong tập "Gái quê", Tử đã từng đếntìm Hoàng Cúc tại thôn Vĩ mà rồi chỉ nấp nom ngoài rào trúc chứ không dám vào. Giờ đây, nhậnđược bức thiếp phong cảnh này, niềm khát khao đã cất lên thành lời tự vấn oái oăm vậy. Còn bacâu sau vẽ ra hình tượng mảnh vườn thôn Vĩ: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quáxanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.Mỗi câu là một chi tiết vườn. Tất cả đều hoà hợp và ánh lên một vẻ đẹp thanh tú. Đọc thơTử, qua các tập, thấy vườn thực sự là một mô-típ ám ảnh. Nào vườn trần, vườn tiên, vườn chiêmbao... Dù mỗi nơi một khác, nhưng vườn của Tử đều mang chung một diện mạo mà Tử muốn gọiTrên đây chỉ là phần trích dẫn 10 trang đầu của tài liệu và có thế hiển thị lỗi font, bạn muốn xem đầyđủ tài liệu gốc thì ấn vào nút Tải về phía dưới.

0 Bình luận



Bạn cần đăng nhập mới có thể viết bình luận

Có thể bạn quan tâm




Nhận thông tin qua email


Cập nhật tài liệu hay và mới tại doc24.vn qua email



Hỗ trợ trực tuyến