loading
back to top

Ôn thi đại học môn văn theo chuyên đề vợ chồng A Phủ

Chia sẻ: hoangkyanh0109 | Ngày: 2017-01-19 14:45:28 | Trạng thái: Được duyệt

Chủ đề: vợ chồng A Phủ   

217
Lượt xem
2
Tải về





Bên trên chỉ là 1 phần trích dẫn trong tài liệu để xem hết tài liệu vui lòng tải về máy. Ôn thi đại học môn văn theo chuyên đề vợ chồng A Phủ

Ôn thi đại học môn văn theo chuyên đề vợ chồng A Phủ

Ôn thi đại học môn văn theo chuyên đề vợ chồng A Phủ




Tóm tắt nội dung

Vợ chồng A Phủ là một tác phẩm đặc sắc của nhà văn Tô Hoài, chuyên đề này nhằm cung cấp, phân tích cho các em các kiến thức về nội dung, nghệ thuật tác phẩm.

Nội dung tài liệu

Ôn thi Đại học môn ăn theo chuyên đề: Vợ chồng PhủVợ chồng Phủ là một tác phẩm đặc sắc của nhà văn Tô Hoài, chuyên đề này nhằm cungcấp, phân tích cho các em các ki thức về nội dung, nghệ thuật tác phẩm.Câu 1: Phân tích hình tượng nhân vật Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng Phủ” của nhàvăn Tô HoàiGợi trả lờia. Yêu cầu kĩ năng HS biết vận dụng kĩ năng phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự,diễn đạt trôi chảy, kết cấu mạch lạc.b. Yêu cầu về kiến thức HS trên cơ sở nắm nội dung tác phẩm “Vợ chồng Phủ” đểphân tích hình tượng nhân vật Mị. Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cầnlàm nổi bật các điểm:* Nội dung:- Ấn tượng về nhân vật đầu tác phẩm: nhà thống lí Pá Tra mà cô gái lúc nào cũngbuồn, lẫn vào giữa những đồ vật vô tri.- Một số phận éo le, bị bắt làm con dâu gạt nợ nhà thống lí, có cuộc sống không bằngthân con trâu, con ngựa.- Một sức sống tiềm tàng, mãnh liệt:+ thức về cuộc sống tự do+ Diễn biến tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân.+ Hành động cởi trói cho Phủ.* Nghệ thuật: Lời kể mộc mạc, lôi cuốn; phân tích tâm lí nhân vật sâu sắc; trục thời giangiữa quá khứ và hiện tại đan xen…* Đánh giá: Mị là nhân vật điển hình cho số phận của người phụ nữ miền núi phía Bắctrước Cách mạng Tháng 8.Câu 2: Vợ chồng Phủ của Tô Hoài và Vợ nhặt của Kim Lân là hai truyện ngắn đều viếtvề số phận và vẻ đẹp tâm hồn của người lao động. Em hãy phân tích hai truyện ngắn trêntrong mối quan hệ đối sánh để nêu bật đặc sắc riêng của từng tác phẩm.Gợi trả lờia.Yêu cầu về kỹ năng:- Biết cách làm bài văn nghị luận văn học với kỹ năng chính là phân tích tác phẩm trongsự đối sánh để thấy được những nét chung của tác phẩm, đồng thời cũng nêu được vẻđẹp độc đáo của từng tác phẩm- Bố cục bài làm rõ ràng, chặt chẽ; văn viết trôi chảy, có cảm xúc, không mắc lỗi diễn đạt.b.Yêu cầu về kiến thức:Học sinh nắm vững và biết phân tích tác phẩm đã cho đề bài trong sự đối sánh để đápứng những nội dung cơ bản sau:* Điểm chung tác phẩm:- Cả tác phẩm đều là những sáng tác thuộc giai đoạn văn học cách mạng 1945-1975- Nhân vật chính trong tác phẩm đều là những người lao động có cuộc sống bất hạnh, khổđau nhưng họ đều có những vẻ đẹp trong tâm hồn: Cho dù có bị cuộc sống vùi dập, bịđẩy vào tình thế bi đát nhưng họ vẫn luôn có niềm tin vào cuộc đời, vẫn luôn hướng tớimột tương lai tươi sáng.* Nét riêng: -Vợ chồng Phủ của nhà văn Tô Hoài:+ Miêu tả số phận: Tác phẩm là bức tranh chân thực về số phận đau khổ của những ngườinông dân lao động miền núi dưới ách áp bức nặng nề của phong kiến, thực dân.+ Phát hiện, khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người lao động: Tác phẩm chính là bài ca vềsức sống bất diệt, về khát vọng tự do hướng tới cuộc đời mới và cách mạng của nhữngngười lao động miền núi vùng Tây Bắc của tổ quốc.- Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân:+ Miêu tả số phận: Tác phẩm đã khắc họa một cách chân thực, cảm động về thân phận bithảm, rẻ rúng của con người trong nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945-Trong nạn đói,con người có thể bị xem như một thứ hàng có thể nhặt được giữa đường…+ Phát hiện, khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người lao động: Dù phải đối mặt với cái chếtđang cận kề, người lao động vẫn cưu mang, đùm bọc, che chở và giúp đỡ nhau để vượtqua hoàn cảnh khốn cùng, họ vẫn luôn khao khát một tổ ấm gia đình, hướng tới tương laitươi sáng.Qua phân tích những đặc sắc riêng từng tác phẩm, học sinh cần thấy vai trò và khả năngsáng tạo của nhà văn, đồng thời cũng cần thấy được khuynh hướng chung trong cảm nhậnvà miêu tả, khám phá đời sống của văn học cách mạng Việt Nam sau Cách mạng thángTám năm 1945.Câu 3: Qua hai nhân vật Mị và Phủ, hãy nêu giá trị hiện thực và nhân đạo của tácphẩm Vợ chồng Phủ (Bài 1)Gợi trả lờiVợ chồng Phủ là một trong ba tập trong Truyện Tây Bắc (in năm 1954) của nhà văn TôHoài. Tác phẩm kể về cuộc đời của đôi vợ chồng trẻ người Mèo là Mị và Phủ. Mị bịbắt về làm con dâu trừ nợ cho nhà thông lí. Phủ vì dám đánh Sử, con trai thống lí nênphải làm đày tớ đế trừ tiền phạt vạ. Cùng cảnh ngộ đau khổ, Mị đã cứu Phủ. Hai ngườitrốn khỏi nhà Pá Tra, tìm đến tận Phiềng Sa, thành vợ, thành chồng, cùng nhau xây dựngcuộc đời mới. Được cán bộ cách mạng giác ngộ, Mị cùng Phủ trở thành du kích bảo vệkhu giải phóng.Đây là tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể. Thông qua số phận Mị và APhủ, nhà văn đã dựng lại quãng đời đau khổ, tối tăm của người dân miền núi trước cáchmạng và phản ánh quá trình đến với cách mạng của họ.Dưới thời thực dân phong kiến, bọn lang bạo chúa đất vùng cao mặc sức làm mưa làmgió. Chúng nắm trong tay quyền lực của hành chính, tập tục và thần linh. Chúng có quyềnsinh, quyền sát. Bởi thế tính mạng người dân bị coi như cỏ rác. Điển hình cho tầng lớpthống trị miền núi được miêu tả trong truyện là cha con tên thông lí Pá Tra với tính cáchbạo ngược và lối sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt người nghèo.Cũng như bao tên chúa đất khác, thông lí Pá Tra có đủ mọi thủ đoạn hiểm độc trong việcáp bức, bóc lột dân chúng, đẩy họ vào cảnh bần cùng để rồi mặc nhiên trở thành nô lệ củahắn. Mị và Phủ là nạn nhân trong bao nạn nhân khác của cha con hắn.Mị vốn là một cô gái mang đầy đủ phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ vùng cao. Đẹp người ,đẹp nết, Mị được nhiều trai bản yêu mến. Cuộc sống, tuổi thanh xuân, hứa hẹn với cô baođiều tốt lành. Nhưng chi vì món nợ của cha mẹ cô vay thống lí từ ngày cưới cho đến lúcmẹ cô chết vẫn chưa trả được nên Mị phải đem thân làm con dâu trừ nợ cho nhà thống lí.Là người nhưng cô bị coi như một thứ đồ vật vô tri, vô giác đế tính ra tiền trừ vào số nợ.Những ngày Mị sống với cha con tên thông lí là chuỗi dài đau thương vất vả. Danh nghĩalà dâu nhà quan nhưng thực chất cô là đầy tớ không công, bị coi rẻ hơn cả con trâu, conngựa. Suốt ngày nai lưng ra làm quần quật, đêm đến cô lại phải thức hầu hạ thằng chồngtàn ác.Đau khổ, cực nhọc đã cướp mất tuổi xuân của Mị, biến cô thành kẻ nhẫn nhục, cam chịu.Cô gái Mèo xinh đẹp, hồn nhiên, đa tình, đa cảm thuở nào đã chết. Chi còn lại người đànbà “lúc nào cũng vậy... cũng cúi mặt buồn rười rượi… ngồi ngay sợi gai bên tảng đátrước cửa, cạnh tàu ngựa...”. Mị âm thầm “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa".Mị không những bị đọa đày về thể xác mà còn bị đè nén về tinh thần, Mị chán sốngnhưng không được chết. Vì có chết thì món nợ truyền kiếp kia vẫn còn là người cha giàcàng đau khổ hơn. Cuộc đời Mị bị ràng cột bằng quyền lực, bị trói buộc bằng tập tục mêtín lâu đời của người dân miền núi.Cách đối xử bất công, tàn bạc của cha con tên thống lí làm cho Mị ngập chìm trong đaukhổ triền miên. Cô lặng lẽ ra vào như một cái bóng, không một người bạn chia sẻ tâmtình. Cô chi còn biết làm bạn với ngọn lửa “trong những đêm đông dài và buồn”. Thânxác Mị, tâm hồn Mị lạnh lẽo, trống vắng, “nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đếnchết kéo".Ngọn lửa là người bạn duy nhất giúp cô xua bớt phần nào bóng tối ám đang vây phủcuộc đời cô. Không có bạn bè cảm thương với nỗi khổ của mình, phải tìm đến ngọn lửa,coi nó là bạn. Khổ biết chừng nào!.Bao năm qua, Mị bị đọa đày trong nhà thông lí, mọi cảm xúc của cô hầu như tê liệt. Tinhthần phản kháng cũng vậy. Bây giờ Mị đã nghĩ rằng minh là con trâu, con ngựa của nhàgiàu, chỉ biết ăn cỏ và đi làm thôi. Con trâu, con ngựa nhà giàu đêm còn được nghi, còncô không lúc nào ngớt việc. Trước kia. cô phản kháng dữ dội bằng cách định ăn lá ngóntự tử, giờ cô không nghĩ đến chuyện chết nữa vì quá quen với cái khổ rồi, vì cho rằngsống mà như chết. Đời Mị cứ thế lặng lẽ trôi đi. Với Mị, cuộc sống chẳng còn nghĩa lí,không còn gợi cho cô thức gì về quá khứ, hiện tại, tương lai. Cái ác cùa bọn thống lí làđã giết chết phần tốt đẹp của con người.Cuộc đời Phủ, người con trai Mèo cũng không kém phần chua xót. Khỏe mạnh, ngangtàng, phóng khoáng, làm nương giỏi, săn thú tài, Phủ được bao cô gái say mê, ao ước.Nhưng hạnh phúc không dến với chàng trai nghèo khổ mồ côi ấy. Vì dám đánh bại trămđồng bạc trắng, phải đi trừ nợ làm ngựa cho nhà thống lí: "Đời mày, đời con, đời cháumày tao củng bắt thể, giờ hết nợ tao mới thôi”.Ngày này qua tháng khác, Phủ phải làm việc cật lực, chăn dắt bầy bò đông máy chụccon. Không may một con bò bị hổ ăn thịt. Phủ bị trói đứng vào cột chờ chết, khôngđược ăn, không được uống.Con người khi phách ngang tàng như Phủ mà phổi lặng lẽ khóc cho thân phận tủi nhụccua mình: "hai mắt Phủ cũng vừa mở. Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõmmá đã xám đen lại”. Chút thức phản kháng trong anh đã bị hiện thực phũ phàng dập tắt.Ngòi bút nhà văn tỏ ra sắc sảo trong việc miêu tả con người và cuộc sống vùng cao. Chacon tên thống lí và lũ tay sai là hiện thân của giai cấp thống trị tàn ác, vô nhân đạo. Bọnlý dịch, quan làng, thống quản... lợi dụng chuyện Phủ đánh Sử để kéo đến nhà thốnglí xử kiện và ăn cỗ “suốt từ trưa cho đến hết đêm". Mấy chục người “hút thuốc phiện ràorào”. Cứ mỗi đợt chúng hút xong Phủ lại phải quỳ ra giữa nhà để người nhà thống lí xôđến đánh: “cứ như thế suốt chiều, suốt đêm, càng hút càng tỉnh, càng đánh càng chửi,càng hút..".Giá trị hiện thực của truyện ngoài việc tái hiện đoạn đời khô ải của những người nô lệcòn nói lên một sự thật xót xa: người dân bị áp bức, đè nén quá lâu sẽ bị tê liệt tinh thầnphản kháng, sẽ bị đầu độc bởi tâm lí nô lệ. Bạo lực cấu kết với thần quyền, với mê tín dịđoan làm cho họ không cất đầu dậy nổi.Nhưng trong cuộc đời, mọi cái đều có giới hạn. Có áp bức, có đấu tranh Mị và Phủcũng như bao người khác sẽ vùng lên tự giải phóng, giành quyền làm người tự do. Đoạnđời sau cùa vợ chồng Phủ chứng minh qua luật muôn đời ấy.Trong giá trị hiện thực của tác phẩm đã ẩn chứa giá trị nhân đạo sâu xa. Có căm thù giaicấp thông trị và xã hội bất công, tác giả mới lên tiếng tố cáo mãnh liệt. Có cảm thương sốphận đau khổ của con người, tác giả mới viết nên những trang sách gây xúc động mạnhmẽ như vậy.Nhưng nhà văn không để nhân vật của mình bị dồn vào thế tuyệt vọng. Điều kì diệu làdẫu trong cùng cực thế nào chăng nữa thì mọi thế lực tội ác cũng không hủy diệt đượcsức sống con người. Cách nhìn nhận của Tô Hoài trong tác phẩm này hết sức nhân bản.Lay lắt, đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt. Từ trong sâuthẳm tâm hồn người con gái bị đọa đày kia vẫn âm ỉ, le lói một ngọn lửa yêu đời, hamsống. Mùa xuân về, Mị lén uống rượu và “lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mịvăng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng... Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vuisướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ,Mị muốn đi chơi.. ”.Nhưng rồi thực tại đen tối đã cố tình dập tắt tiếng sáo thiết tha và hình ảnh mùa xuân rựcrỡ. Phản ứng tự phát ban đẩu của Mị không thể giải phóng được cuộc đời có nhưngnhững giây phút trỗi dậy ấy có nghĩa thức tỉnh. Giống như đốm lửa âm trong đám trothan, có ngày sẽ bùng cháy dữ dội.Ngày ấy đã đến với Mị trước cảnh Phú bị trói, “Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợtnhớ lại đêm năm trước Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc,nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứngngười ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trời đến chết người đàn bà ngàytrước cũng cái nhà này... Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chếtđói, chết rét, phải chết. Ta thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biếtđợi ngày rũ xương đây thôi, người kia việc gì mà phải chết thế.. ". Mị không cầm lòng được trước cảnh con người sắp bị hủy diệt. Mị động lòng thương,thương người, thương thân, Mị nhớ đến những khổ sở, hãi hung mà mình đã phải chịuđựng suốt mấy năm qua. Giọt nước mắt đau khổ của Phủ như giọt nước làm tràn bìnhnước đã đầy. Nó thức tỉnh nỗi đau lắng chìm trong lòng Mị. Cảm thương số phận Phủ,lòng căm thù cha con tên thống lí độc ác bùng lên, lấn át nỗi sợ hãi, dẫn Mị đến hànhđộng táo bạo ngoài thức: Cắt dây trói cứu Phủ.Đây là hành động bộc phát song nó là kết quả tất yếu của một quá trình dồn nén, bức xúcvề mặt tinh thần, bây giờ đã đến lúc giải thoát. Mị cắt dây trói cho Phủ cũng là cắt đứtnhững dây trói vô hình đã cột chặt cô vào quãng đời tủi nhục bấy lâu nay. Cô vụt chạytheo Phủ bởi cô thức được sự sống còn của minh: “Ở đây thì chết mất". Mị đã chạytheo tiếng gọi mãnh liệt của tự do, giải phóng mình ra khỏi nanh vuốt cha con tên thốnglí.Hai con người cùng cảnh ngộ đã “lẳng lặng díu nhau lao chạy xuống núi” bỏ thật xa cáiđịa ngục giam cầm, đày đọa họ mấy năm trời. Từ trong chết, họ vùng dậy tìm lẽ sống,làm lại cuộc đời.Chạy trốn khỏi Hồng Ngài, thoát khỏi ách áp bức của thống lí Pá Tra. Vợ chồng Phủ lạigặp phải kẻ thù mới không kém phần nguy hiểm là giặc Pháp. Chúng là lũ cướp nướcđồng thời cướp cả mọi thứ và quyền tự do sống làm người, chẳng khác gì bọn cường hàoác bá miền núi.Chúng càn lên núi cao, đốt nhà, cướp của, bắt người. Phủ bị chúng cướp mất đôi heo,bị đánh, bị đi phu khiêng đá xây đồng... Phủ căm thù, chửi bới giặc Pháp và đã nhậnthức được rằng mình là người tự do, của cải bị chúng cướp đi là mồ hôi, nước mắt cùamình. Phải nhớ lấy để mà trả thù.Sống Phiềng Sa, vợ chồng Phủ mới thực sự được làm người. Họ được cán bộ Châugiác ngộ cách mạng, từ một chàng trai nghèo khổ, nô lệ, Phủ đã trở thành một du kíchdũng cảm, tự tin. Anh thực sự trở thành chỗ dựa tinh thần của Mị. Sống bên Phủ, Mịdần dần hết lo sợ, cô vững tin vào cuộc sống mới vào kháng chiến. Được đứng lên đánhlại kẻ thù áp bức mình trong tư cách mình là con người, thức ấy mới thực sự có nghĩanhân đạo.Quá trình giác ngộ cách mạng cùa vợ chồng Phủ tiêu biểu cho con đường đến vớiĐảng, với cách mạng của đồng bào các dân tộc ít người miền núi ta. Qua tác phẩm, nhàvăn gián tiếp khẳng định chỉ có cách mạng mới phóng con người ra khói ách áp bức, bấtcông, giúp con người vươn tới cuộc tự do, hạnh phúc, cuộc sống làm người. Tô Hoài khitái hiện bức tranh hiện thực với những bản chất của nó không thể không miêu tả quá trìnhvận động, quy luật của cuộc sống. Đấy là giá trị nhân đạo sâu xa của tác phẩm.Qua việc miêu tả sô phận của hai nhân vật Mị và Phủ, nhà văn đã sống lại trước mắtngười đọc cả quãng đời tăm tối, cơ cực của người dân miền núi dưới ách thống trị dã mancủa bọn quan lại, chúa đất phong kiến. Đồng thời khẳng định chỉ có sự vùng dậy của bảnthân theo dẫn dắt của cách mạng giải phóng được con người ra khỏi kiếp ngựa trâu, nô lệ.Đó chính là giá trị hiện thực và nhân đạo to lớn của tác phẩm. Giá trị này giúp truyệnđứng vững trước thử thách của thời gian và vẫn được nhiều thế hệ bạn đọc yêu thích.Câu 4: Nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng Phủ là một thành công của Tô Hoài trong việc xây dựng con người thức tỉnh. Hãy chứng minh nhận định ấỵ?Gợi trả lờiTruyện Vợ chồng Phủ trong tác phẩm Truyện Tây Bắc (1953) là thành công tốt đẹp đầutiên của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám. Qua cuộc đời tủi nhục đau khổ của Mị và APhủ hai nô lệ của thống lí Pá Tra Hồng Ngài, Tô Hoài đã phản ánh nỗi thống khổ củangười Mèo trong chế độ cũ và sự vùng dậy của họ để giành lấy tự do, hạnh phúc, mộtlòng đi theo cách mạng và kháng chiến. Nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng Phủ là một thành công của Tô Hoài trong việc xâydựng con người thức tỉnh con người trong văn học là những nhân vật từng nếm trải nhiềucay dắng, tủi nhục và đau khổ trải qua những năm dài bị áp bức bóc lột bị chà đạp, giàyxéo mà trở thành con người gần như vô cảm vô hồn, sống trong trạng thái nhẫn nhục,cam chịu cho thân phận mình. Cuối cùng, con người thức tỉnh dần dần “hồi sinh”, tự ýthức về quyền sống và quyền làm người của mình, phản kháng áp bức, bất công giành lấytự do và hạnh phúc, xây dựng một cuộc sống có nghĩa. Cùng với nhân vật Phủ, tathấy rõ nhân vật Mị là “con người thức tỉnh giàu nghĩa nhân văn.Cuộc đời Mị đầy bi kịch. Mị xinh đẹp, thổi sáo hay, nhiều chàng trai Mèo mê “ngày đêmđã thổi sáo đi theo Mị”. Nhưng hạnh phúc tuổi xuân khônp đến với người con gái đángthương này. Mẹ Mị đã mất. Nhà nghèo, bố Mị đã già món nợ truyền kiếp mỗi năm phảiđem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô đã trở thành sợi dây oan nghiệt đối với Mị. Mị đãbị Sử (con trai thống lí Pá Tra "cướp được” đem về cúng trình ma. Bố Mị chỉ còn biếtcất lời than trong nước mắt: “Chao ôi! Thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếptrước,giờ người ta bắt bán con trừ nợ. Không thể làm thể nào khác được rồi!”.Mị chịu kiếp con dâu gạt nợ đau khổ, túi nhục vô cùng. Đêm nào MỊ cũng khóc tựthương cho số phận mình, Mị phải chết, Mị phải tự tử bằng lá ngón hái được trong rừng- Hình ảnh Mị: “hai tròng mắt còn đỏ hoe”, quỳ lại, úp mặt xuống đất, nức nở, hình ảnhbố Mị “cũng khóc” cất lời than... đã cho thấy được bi kịch đầy nước mắt! Mị muốn ăn lángón tự tứ và Mị không cam chịu kiếp nô lệ trong thân phận con dâu gạt nợ. Mị muốnđược sống trong một cuộc đời đáng sống, sống có nghĩa làm người. Sống trong nô lệ vàtủi nhục Ai tự tử còn hơn. Phán kháng ấy tuy tiêu cực, nhưng cho thấy Mị đã thức vềnhân phẩm của mình. thức về nhân phẩm, phủ định thực tại đen tối là biểu của conngười thức tỉnh.Mị muốn chết mà không chết được. Mị chết nhưng nợ quan vẫn còn, bố Mị yếu quá rồi.Ai có thể làm nương ngô giả được nợ thống lí! Mị chỉ còn khóc. Mị phải ném nắm lángón xuống đất. “Mị không đành lòng chết... còn phải trở lại nhà thống lí”. Mị cam chịukiếp nô lệ con dâu gạt nợ vì thương bố. Mị hiếu thảo và giàu hi sinh biết bao!Quá trình thức tỉnh của con người thức tỉnh là những năm dài đen tối, những tháng ngàytủi nhục đắng cay. Mị cũng vậy. Nơi Mị là một cái kui mít như cái chuồng nhốt thú, chỉcó một lỗ vuông bằng bàn tay ra. Có lúc Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗvuông ấy mà ra “đến bao giờ chết thì thôi”. Nhan sắc, tuổi xuân của Mị bị tước đoạt, xéo,bị chà đạp. Mị bị bóc lột tàn nhẫn, phải làm quần quật quanh năm lên núi hái thuốc phiện,bẻ bắp, hái củi, bung ngô... lúc nào cũng gài một bó đay trong tay để tước thành sợi. Cólúc lại thấy Mị quay sợi bên tảng đá trước cửa cạnh tàu ngựa. Bó đay ấy, tảng đá ấy nhưcái xiềng, cái xích, cái dây oan nghiệt đối với Mị. Mị bị áp bức mà trở nên tê liệt dần.Không ăn lá ngón tự tử nữa. Mị “tưởng mình cũng là con trâu, cũng là con ngựa". Mị“cúi mặt”, “mặt buồn rười rượi''. Mị cam chịu “ở lâu trong cá khổi Mị quen khổ rồi”. Gầnnhư vô cảm vô hồn, lâu dần “Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa’’.Thân phận Mị có khác nào cô gái Thái bị ép duyên trong truyện thơ Tiễn dặn người yêu:Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựaBằng con chẫu chuộc thôi...Cảm thấy kiếp mình, thân phận mình như con trâu, con ngựa, con rùa, con bọ ngựa, conchẫu chuộc, có nghĩa là chén đắng cay cùa cuộc đời đã uốn cạn chỉ còn sống trong tê liệt,nhẫn nhục và cam chịu. Chẳng phải đời Mị đà lụi tàn?Con người thức tỉnh được hồi sinh không chi với ngoại cành mà còn tự tâm hồn mình, ỷthức mình. Mị đã thức tỉnh với những đêm tình mùa xuân Hồng Ngài. Tết đến, mùaxuân làng Mèo làm cho hoa thuốc phiện “đỏ au" thêm rực rỡ, những chiếc váy hoa phơitrên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ Những cuộc vui chơi của trai gái, trẻ con nhưđánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy múa diễn ra náo nhiệt trên sân trướcnhà. Và tiếng sáo tiếng khèn “rủ bạn đi chơi” làm cho Mị “thiết tha bổi hổi”. Mị nhẩmtheo tiếng hát, tiếng sáo vọng lại:... Ta không có con trai con gáiTa đi tìm người yêu...Tiếng sáo lay gọi, thức tỉnh tâm hồn Mị. Mị lén lấy hũ rượu, “cứ uống ừng ực từng bát".Uống cho tan nỗi hận! uống cho vơi đi bao đau khố chứa chất trong lòng! Say “lịm mặt”,Mị “sống về ngày trước". Mị nhớ lại thời con gái, Mị thổi sáo bao người mê. Tiếng sáogọi bạn tình đã nhập vào hồn Mị, “tai Mị văng vẳng tiếng sáo. Mị đã thật sự hồi sinh vàhồi xuân. Mị tự thức là “Mị trẻ lắm. Mị vẫn trẻ”. Mị cảm thấy “phơi phới”, trong lòng“đột nhiên vui sướng” như những đêm Tết ngày trước thời con gái. Mị muốn đi chơi Tết.Khao khát được sống trong tình yêu hạnh phúc như ngọn lửa bùng cháy tâm hồn Mị.Mị được thức tỉnh về cảnh ngộ. MỊ thấy vô lí, bất công đến tàn nhẫn đến cay đắng. Baonhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Mị với Sứ “không có lòng với nhau màvẫn phải với nhau!”. Thật là trớ trêu! Mị muốn ăn lá ngón cho chết. Mị ứa nước mắt.Tiếng sáo gọi bạn yêu đang “lửng lơ bay ngoài đường. Đó là tâm lí của Mị trong đêm tìnhmùa xuân. Tiếng sáo lay tỉnh. Mị đang “vùng vẫy“ cố thoát cảnh ngộ đau khổ và tủinhục!Mị đã phản kháng, đã hành động. Mị xắn mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng. Với tay lấy váyhoa, rút thêm cái áo, quấn lại tóc. Mị “sắp đi chơi". Hành động Mị ngang nhiên diễn ratrước mắt thằng Sứ. Mị chẳng thèm trả lời câu hỏi của hắn: “Mày muốn đi chơi à?”. Mịđã bị thằng Sử trói vào cột buồng bằng cả một thúng sợi đay. làm cho Mị “không cúi,không nghiêng đẩu được nữa”. Mậc dù lúc mê lúc tinh, lúc khắp người “bị dây trói thítlại, đau nhức", nhưng Mị vẫn “nồng nàn. tha thiết nhớ’, “vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đitheo những cuộc chơi, những đám chơi”. Điều đó cho thấy, Mị được thức tỉnh về tìnhyêu, về hạnh phúc, khao khát của Mị rất mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân cho thấyngòi bút phân tích tâm lí và hành động Mị, con người thức tỉnh của Tô Hoài rất tinh tế,sâu sắc. Trang văn thấm đượm tinh thần nhân văn cao cả. Mị có bị ngã gục trước số phận đen tối tủi nhục không? Con ma nhà thông lí uy quyểncủa Pá Tra. bộ mặt độc ác của Sứ, và món nợ truyền kiếp, tất cả đã thít chặt Mị bằngnhững sợi dây oan nghiệt vô hình. Sau đêm bị trói ấy, Mị mỗi ngày một tê dại đi. Mị “chỉcòn biết, còn với ngọn lửa". Đêm nào. MỊ cũng “thức sưởi lửa suôi đêm". Mị và Phủ“gặp nhau" tại nhà thống 1í như một tiền định. Người con dâu gạt nợ. Người vì tội đánhcon quan mà trở thành người “vay nợ, nợ". Cả hai đều là con trâu, con ngựa của nhàthống lí Mị đã bị Sừ trói đứng suốt đêm bằng một thúng sợi đay. Phủ vì tội để hổ bắtmất một con bò mà bị Pá Tra trói vào cọc bằng một cuộn mây, Phủ bị trói đã mấy ngàyđêm. Mỗi đêm, nghe tiếng phù phù thổi Phủ “mở mắt”...; thấy ngọn lửa sưởi bùng lên,A Phủ “trừng mắt”. Mị nhìn sang, rồi “thản nhiên” thổi lửa, hơ tay. Cho dù “nếu Phủ làcái xác chết đứng đấy, cũng thể thôi”. Tâm hồn Mị đã héo hắt, đã tàn lụi, đã giá lạnh đếncùng cực! Thật đáng sợ.Nhưng rồi cảnh ngộ, tình thướng và lòng căm thù đã thức tỉnh thức Mị, tâm hồn Mị.Qua “ngọn lửa bập bùng”, MỊ “lé mắt trông sang” Mị xúc động nhìn thấy “một dòngnước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm mắt đã xám đen lạị" của Phủ. Mị nhớ lại đêm nămtrước, Sử cũng trói đứng Mị như thế Mị khẽ thốt lên lời than: “Trời ơi!...”. Mị nguyềnrủa cha con thống lí: chúng nó thật độc ác”. Bao cảnh thương tâm đồng hiện trong tâmhồn Mị: bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói chếtngười đàn bà ngày trước cũng cái nhà này”. Mị tự thương cảnh ngộ mình; thương APhủ trên bờ vực thẳm, khi tử thần đã gõ cửa: “Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kiachết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Mị nghĩ về thân phận mình, tưởng như làcam chịu: “Ta là thân đàn bà, nó đã bát ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn bỉếi đợi ngàyrũ xương đây thôi...”. Mị thức được Phủ không thể chết, “việc gì mà phải chết thế”.Con đường thức tỉnh của con người thức tỉnh là con đường vòng, có lúc ngập ngừng dodự, có lúc quyết liệt. Mị cũng thế, Mị tưởng tượng Phù trốn thoát, Mị sẽ bị trói trên cáicọc oan nghiệt ấy! Đám than vạc hẳn lửa. Hình như bóng tối cho Mị sức mạnh, “trongtình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ...”.Hành động của con người thức tỉnh là “hành động tự phủ định, hành động tự giải thoát"(J.P.Sartre). Mị đã toan ăn lá ngón để tự tử, đó là ra lệnh: “.Rồi MỊ đứng lặng trong bóngtối. Đó là “khoảnh khắc bi kịch”. lại là chết trong đau đớn như người đàn bà nọ. Chạytrốn còn có thể sống Mị nói liên tiếp hai câu như kêu cứu và đuổi chạy theo Phủ: “APhủ cho tôi đi…ở đây thì chết mất...”. Mị và Phủ dìu nhau cùng chạy trốn đến PhiềnSa khu du kích. Phiền Sa là chốn nương thân cho họ. Cách mạng và kháng chiến mới làđất hứa, đất thánh cho người thức tỉnh. Mị cắt dây trói Phủ cũng là tự cắt dây trói đểgiải thoát mình. Như con chim sổ lồng,thoát khỏi bóng tối vươn tới ánh sáng, từ nô lệ tủinhục mà giành dược tự do, hạnh phúc, cùng với Phủ nên vợ nên chồng, rồi trở thànhchiến sĩ du kích.Mị là nhàn vật thức tinh. Tô Hoài đã phân tích tinh tế, sâu sắc mọi diễn biến về tâm lí vàhành động Mị trong quá trình thức tỉnh với tất cả sự thương xót và đồng cảm sâu sắc. Mịlà nhân vật thức tỉnh có sức mạnh phản kháng và sức sống tiềm tàng. Nhân vật Mị đã gópphần thể hiện giá trị nhân văn của truyện Vợ chồng Phủ.Và ta càng thấm thía về cái giá của tự do. Cái mùi vị của tự do là “cái vị ngọt ngào và cómùi tanh đồng” như Hêminguê đã nói.Câu 5: Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng Phủ.Gợi trả lờiVơ chồng Phủ (1953), Miền Tây (1967), Vừ Dính (1962)... là những tác phẩm nổitiếng cùa Tô Hoài viết về phong tục, cảnh sắc và con người miền Tây của Tổ quốc ta. TôHoài đã từng nói: “Tôi coi Việt Bắc, Tây Bắc cũng như một quê hương đề tài của tôi...”(Văn nghệ số 14/10/1995). Tập truyện Tây Bắc là nét son chói lọi đầu tiên của sự nghiệpvăn chương Tô Hoài viết về đề tài miền Tây. Một chuyến đi dài, Tô Hoài theo bộ đội vàogiải phóng Tây Bắc(1952) Ông đã viết thành công tác phẩm Truyện Tây Bắc, trong đócó truyện Vợ chồng Phủ. Qua truyện ngắn này, Tô Hoài đã phản ánh nỗi thống khổ vàsự vùng dậy của người Mèo Tây Bắc, một lòng quyết tâm đi theo kháng chiến để giànhlấy tình yêu, hạnh phúc.Những trang viết về Mị một trong hai nhân vật chính của truyện là vô cùng cảm động.Mị tuy bị chà đạp, bị giày xéo trong bể khổ cuộc đời, nhưng cô có một sức sống tiềm tàngki lạ! Mị là một cô gái trẻ và đẹp, duyên dáng, hiếu thảo, thổi sáo hay, “có biết bao ngườimê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Nhà nghèo, năm nào Mị cũng phải trả nợ lãi mộtnương ngô cho thống lí Pá Tra. Bố đã già, Mị thương bố lắm. Cô đã nói với bố: “Con nayđã biết cuốc nương ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán concho nhà giàu”. Món nợ truyền kiếp mà bố Mị vay của thống lí như một oan trái cuộc đời.Mị đã bị Sử con trai thống lí đánh lừa bắt về cúng trình ma. Mị trờ thành con dâu gạtnợ... Đau xót quá! “Chao ôi! Thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếp trước, bây giờngười ta bắt bán con trừ nợ. Không thể làm thế nào khác được rồi!”. Tiếng than của bốMị nói lên một sự thật cay đắng: Mị là con dâu gạt nợ của thống lí Pá Tra điều đó nhưmột định mệnh bi thảm!Những năm đằng đẵng làm dâu gạt nợ, Mị bị đối xử hết sức tàn tệ, chẳng khác gì một convật. Phải làm quần quật quanh năm, suốt tháng. Lên núi hái thuốc phiện, giặt đay, xe đay,đi nương bẻ bắp, lúc hái củi bung ngô, lúc nào Mị cũng phái gài một bó đay trong cánhtay để tước thành sợi. Mị chẳng khác nào con trâu, con ngựa nhà thống lí. Khổ cực quáchừng: “Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhaicỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày”.Tuổi trẻ, sắc đẹp của Mị bị tước đoạt, vùi dập. Cô như một đóa hoa rừng chóng héo tàn,lúc nào cũng “cúi mặt, mặt buồn rười rượi'’. Buồng Mị như một cái chuồng nhốt thú,kín mít, tối om, chỉ có một lỗ nhỏ bằng bàn tay, nhìn ra ngoài “chí thấy trăng trắng,không biết là sương hay là nắng”. Đau khổ quá “Mị nghĩ rằng mình cứ chi ngồi trong cáilỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi!’’. Nỗi ám ảnh ấy thật ghê sợ. Mị nhưmột linh hồn chết.Cứ tưởng ràng Mị cam chịu số phận. Nhưng cô ta đã hết sức vùng vẫy cố thoát khỏi cáidây oan nghiệt của số phận. Hàng mấy tháng liền, đêm nào Mị cũng khóc. Mị trốn vềnhà, tròng mắt đỏ hoe. Gặp bố Mị quỳ lạy, úp mặt xuống đất, nức nở". Lần đầu tiên, Mịphản kháng lại số phận tủi nhục, hái lá ngón toan ăn để tự tử. Nhưng Mị chết đi, ai sẽ làmnương ngô giả được nợ thống lí, khi bố Mị đã “ốm yếu quá rồi”. Thương bố, Mị “khôngđành lòng chết”. Mị bưng mặt khóc, ném nắm lá ngón xuống đất “đành trở lại nhà thốnglí”, cam chịu kiếp ngựa trâu, sống lùi lũi như con rùa trong xó cửa. Biết bao mùa xuântrôi qua! Biết bao nhiêu nước mắt Mị đã chảy xuống. Cũng như bao người đàn bà kháctrong nhà thống lí “một đời con người chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng”. Mị camchịu số phận: “ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi’’... Mị thấy mình chỉ là con trâu, conTrên đây chỉ là phần trích dẫn 10 trang đầu của tài liệu và có thế hiển thị lỗi font, bạn muốn xem đầyđủ tài liệu gốc thì ấn vào nút Tải về phía dưới.

0 Bình luận



Bạn cần đăng nhập mới có thể viết bình luận

Có thể bạn quan tâm




Nhận thông tin qua email


Cập nhật tài liệu hay và mới tại doc24.vn qua email



Hỗ trợ trực tuyến