Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Tài liệu dạy môn tự nhiên và xã hội lớp 3

62373264346165313661363161353335643738336566633039313562306235303661616139306265633264333335313438623237613533396361373239316534
Gửi bởi: Phạm Thọ Thái Dương vào 07:28 AM ngày 31-12-2019 || Kiểu file: DOC Lượt xem: 265 | Lượt Download: 0 | File size: 0.18688 Mb

Nội dung tài liệu Tải xuống


Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Thông tin tài liệu

Kinh nghiệm
chỉ đạo giáo viên sử dụng phương pháp trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy
-học môn Tự nhiên- xã hội ở lớp 3

Môn: Tự nhiên - Xã hội
Tên tác giả : Vũ Thị Nhu
Đánh giá của Phòng Giáo dục
(Nhận xét ,xếp loại )

Năm học 2005-2006
5

A. đặt vấn đề.
I. Lí do chọn đề tài

Trong xu thế đổi mới của nền giáo dục nước nhà. Giáo d ục Ti ểu h ọc
đang tạo ra những chuyển dịch định hướng có giá tr ị. Cùng v ới 5 môn h ọc khác
Tự nhiên - Xã hội là một môn học có nhiều sự đổi mới. Nó là tích h ợp c ủa 2
môn học cũ Sức khoẻ và Tự nhiên xã hội.
Môn Tự nhiên - Xã hội ở bậc Tiểu học được chia thành 2 giai đo ạn. Giai
đoạn 1 từ lớp 1 đến lớp 3, giai đoạn 2 từ lớp 4 đến lớp 5 - nó có một vai trò cực
kì quan trọng đó là: Tìm hiểu khám phá thế giới Tự nhiên - Xã hội xung quanh
chúng ta và cách chăm sóc sức khoẻ cho mình, cho cộng đồng.
Mỗi môn học có một sắc thái riêng. Môn Tự nhiên - Xã hội cũng v ậy. Tuy
bản chất là cung cấp những kiến thức Tự nhiên - Xã hội có xung quanh chúng ta
song trong sách giáo khoa lớp 3 không đưa ra kiến thức đóng khung có sẵn mà là
một hệ thống các hình ảnh bên cạnh các lệnh yêu cầu học sinh th ực hi ện. H ọc
sinh muốn chiếm lĩnh tri thức không thể khác là thực hiện t ốt các l ệnh trong
sách giáo khoa. Vậy một giờ học Tự nhiên - Xã hội ở lớp 3 được tiến hành ra
sao?
Cho dù tất cả giáo viên trong hội đồng sư phạm trường tôi đều tích cực
đổi mới phương pháp dạy học thì một giờ Tự nhiên - Xã hội vẫn di ễn ra t ẻ
nhạt trầm lắng với các hoạt động khó khổ cho học sinh đó là quan sát, đàm
thoại và tổng hợp. Với rất nhiều tranh ảnh đẹp giàu màu sắc. Các em đ ược lôi
kéo vào xem một cách rất hồn nhiên. Nhưng yêu cầu quan sát tập trung đưa ra
một vấn đề trọng tâm nhằm đạt được mục tiêu của bài học thì các em rất d ễ
nản. Nếu tiết Tự nhiên - Xã hội nào cũng lặp lại các lệnh: Quan sát, Đàm tho ại,
Mô tả...thì rất dễ làm các em mệt mỏi. Điều đó đòi hỏi giáo viên c ần có s ự thay
đổi linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học.
Đối với học sinh lớp 3, ở lứa tuổi này các em còn mang đậm b ản s ắc hồn
nhiên, sự chú ý chưa cao. Bên cạnh hoạt động học là ch ủ đ ạo thì nhu c ầu ch ơi,
giao tiếp với bạn bè vẫn tồn tại, cần được thoả mãn. N ếu ng ười giáo viên bi ết
phối hợp nhịp nhàng giữa nhiệm vụ của hoạt động học với sự thoả mãn nhu
cầu chơi, giao tiếp của các em "học mà chơi, chơi mà học" thì chúng sẽ hăng
hái say mê học tập và tất yếu kết quả của việc dạy học cũng đạt tới điểm đỉnh.
6

Đây cũng là đặc thù của phương pháp dạy học đặc biệt: Phương pháp trò
chơi.
Dạy học bằng phương pháp trò chơi là đưa học sinh đ ến v ới các ho ạt
động vui chơi giải trí nhưng có nội dung gắn liền với bài học. Trò chơi trong
học tập có tác dụng giúp học sinh thay đổi động hình, ch ống mệt m ỏi. Tăng
cường khả năng thực hành kiến thức của bài học. Phát huy hứng thú, tạo thói
quen độc lập, chủ động và sự sáng tạo của học sinh.
Là người quản lý nhà trường tôi luôn trăn trở: Làm sao đ ể gi ờ h ọc T ự
nhiên - Xã hội - 3 đạt hiệu quả cao nhất? Xuất phát từ lí do trên tôi đã tìm tòi và
nghiên cứu đề tài: "Chỉ đạo Giáo viên sử dụng phương pháp trò chơi nhằm
nâng cao chất lượng dạy - học môn Tự nhiên - Xã hội ở lớp 3".
II. Mục đích nghiên cứu.

Trong quá trình chỉ đạo việc dạy - học ở nhà trường tôi đã sáng tạo và yêu
cầu các đồng chí giáo viên lớp 3 vận dụng các trò ch ơi vào d ạy môn T ự nhiên Xã hội ở lớp 3. Nhằm khơi dậy niềm hứng thú, niềm say mê học tập cho học
sinh. Kích thích tính độc lập chủ động sáng tạo trong việc lĩnh h ội tri th ức, t ạo
không khí sôi nổi trong giờ Tự nhiên - Xã hội.
III. Phương pháp nghiên cứu:

1. Phương pháp luận.
Đọc các tài liệu: - Thế giới trong ta.
- Tập san Giáo dục và Thời đại.
- Trò chơi trong Tự nhiên - Xã hội lớp 3.
- Tâm lí tuổi học sinh Tiểu học.
- Sách giáo viên và sách Tự nhiên - Xã hội lớp 3.
2. Phương pháp điều tra thực nghiệm.
3. Phương pháp đối chiếu so sánh.
4. Phương pháp chỉ đạo.
5. Phương pháp rút kinh nghiệm.
IV. Đối tượng nghiên cứu.

- Chương trình Tự nhiên - Xã hội lớp 3.
- Các trò chơi vận dụng trong quá trình dạy học môn Tự nhiên - Xã hội.
7

V. Khách thể nghiên cứu:

50 học sinh 2 lớp 3A và lớp 3B.
* Lớp thực nghiệm lớp 3B .
* Lớp đối chứng là lớp 3A.
* 2 lớp có sĩ số bằng nhau và trình độ tương đương nhau.

B. Giải quyết vấn đề.
I. Thành lập và phân công nhóm nghiên cứu chỉ đạo thực nghiệm.

1. Tôi là người soạn thảo, chủ biên:
- Chỉ đạo giáo viên thực nghiệm.
- Điều tra thực trạng.
- Kiểm tra + lấy kết quả.
2. Thành viên còn lại:
- Dạy thực nghiệm.
- Chắp bút.
II. Đặc điểm nội dung sách giáo khoa phân môn Tự nhiên - Xã hội
lớp 3.

* Môn Tự nhiên - Xã hội lớp 3 được tích hợp từ 2 môn Sức khoẻ và Tự
nhiên xã hội lớp 3 cũ sang, ở đây không có một bài Tự nhiên - Xã hội nào đưa ra
kiến thức đóng khung có sẵn. Kênh hình thì rất nhiều, kênh ch ữ ch ủ y ếu là các
lệnh với một số tóm lược sơ đẳng của từng mảng kiến thức. Các bài Tự nhiên Xã hội trong sách giáo khoa được chia thành 3 chủ điểm đó là: Con ng ười và
sức khoẻ, Xã hội, Tự nhiên.
* Các kiến thức trong bài Tự nhiên - Xã hội được thể hiện chủ yếu bởi
các tranh ảnh. Riêng ở mảng kiến thức Con người và Sức khoẻ học sinh được
học trong 18 bài từ tuần 1 đến tuần 9 nội dung cơ bản là tìm hi ểu v ề các c ơ
quan: Vận động, Tuần hoàn, Hô hấp, Thần kinh... cách vệ sinh phòng tr ừ các
bệnh liên quan tới các cơ quan đó.
8

* ở mảng kiến thức xã hội học sinh được tìm hiểu thêm, sâu hơn về gia
đình và các thế hệ trong gia đình. Một số hoạt động ở trường. Đặc biệt học sinh
được khám phá các hoạt động Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương m ại, Thông
tin liên lạc trong tỉnh và các nước. Học về Làng quê và Đô thị... Mảng kiến thức
này kéo dài trong 20 bài (10 tuần).
* Mảng kiến thức về Tự nhiên - Xã hội học sinh được tìm hiểu về thực
vật, động vật học đến chi tiết các bộ phận của cây, rễ, hoa, quả, lá. H ọc v ề
Mặt trời, Mặt trăng và các hành tinh trong hệ mặt tr ời song t ất c ả m ới ch ỉ d ừng
lại ở kiến thức sơ đẳng, ở mảng này có một số bài rất gần gũi th ực t ế v ới h ọc
sinh như (Tôm, cua, cá, chim, thú...). Bên cạnh đó Tự nhiên - Xã hội lớp 3 còn
cung cấp cho học sinh về năm, tháng, mùa các đới khí hậu và bề mặt của L ục
địa...
III. Cơ sở lí luận

Mặc dù gánh trên vai trách nhiệm nặng nề của học sinh Tiểu học là học
nhưng học sinh lớp 3 vẫn là những đứa trẻ ngây thơ hồn nhiên với tất cả đặc
tính của nó. ở lứa tuổi này ngoài nhu cầu học còn tồn t ại m ột lo ạt nhu c ầu khác
như vui chơi, vận động giao tiếp với bạn bè và thể hiện mình. Việc thoả mãn
các nhu cầu này là điều kiện cơ bản để trẻ có được cuộc sống t ự nhiên v ốn có.
Thế nhưng trong môi trường lớp học nội dung cơ bản tiến hành là "học". Học
sinh phải dồn hết tinh thần sức lực cho việc học, khiến trẻ quên đi những nhu
cầu chính đáng kia của mình và mất dần vẻ tự nhiên vô t ư. Trong vi ệc giúp các
em tìm lại cuộc sống tự nhiên vốn có "Trò chơi" có m ột vai trò, ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Bởi "Chơi" là được sống hết mình và khác với hoạt động học: các
thành tích của học tập cơ bản phụ thuộc vào bản thân trẻ, còn sự th ắng thua
trong trò chơi mang tính ngẫu nhiên. Trẻ tham gia chơi với hy v ọng chi ến th ắng
và để khẳng định mình. Bên cạnh đó trò chơi tạo cho tr ẻ sự th ư giãn, tho ải mái
cần thiết cho bản thân.
Với các đặc điểm riêng "Trò chơi" mở ra cho học sinh Ti ểu h ọc m ột kh ả
năng phát triển lớn. Các em được tiếp cận với hoàn cảnh chơi nhiệm vụ chơi,
hoạt động chơi, luật chơi... từ đó trẻ lĩnh hội các tri thức sống động về cuộc
sống xung quanh và tri thức khoa học.
áp dụng phương pháp trò chơi vào dạy học môn Tự nhiên - Xã h ội là đ ưa
học sinh vào các hoạt động vận dụng mang tính t ự nguyện. H ọc sinh đ ược ch ủ
9

động sáng tạo phát hiện điều cần phải học. Nó làm bớt đi sự căng thẳng, khô
khan, trừu tượng của các lệnh đem đến sự sôi nổi ham mê say s ưa tìm hi ểu
khám phá và lĩnh hội tri thức trong mỗi giờ học.
IV. Cơ sở thực tế.

Việc áp dụng phương pháp trò chơi vào dạy học môn Tự nhiên - Xã hội
chính là việc giáo viên khơi dậy hứng thú, niềm say mê học tập tạo không khí
sôi nổi cho một giờ học. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải xác đ ịnh rõ yêu c ầu bài
dạy cần đạt. Trên cơ sở đó xác định cần đưa trò chơi vào lúc nào? N ếu giáo
viên không tổ chức tốt thì trò chơi không những không gặt hái được k ết qu ả
như mong muốn mà còn bị phản tác dụng gây sự hỗn độn không cần thiết.
Thực tế ở trường Tiểu học nơi tôi đang quản lí có ba lớp 3. Trong quá trình d ạy
học mỗi giáo viên đều tích cực đổi mới phương pháp để đạt mục tiêu giờ dạy
cao nhất. Song qua dự giờ thăm lớp tôi nhận thấy có giờ dạy đã t ổ ch ức đ ến 3
hoạt động khác nhau mà giờ học vẫn tẻ nhạt, chán nản. Các câu hỏi thảo luận
nhóm thường bị lặp kém hiệu quả. Mỗi khi báo cáo kết quả thảo lu ận h ọc sinh
không những không đưa ra được kiến thức theo yêu cầu mà nội dung báo cáo có
phần dập khuôn, xáo rỗng. Bên cạnh đó có giờ giáo viên đ ưa t ới 3 trò ch ơi vào
giảng dạy kết quả là cả một giờ học không khí lúc nào cũng tràn ngập ti ếng
cười, tiếng reo hò. Song chính vì trạng thái tâm lí b ị kích thích quá ng ưỡng làm
cho sự nhận thức của học sinh không đạt được hiệu quả như mong mu ốn. H ọc
sinh không nắm được kiến thức trọng tâm của bài.
V. Thực trạng nghiên cứu.

Với hơn một năm chỉ đạo việc dạy - học môn Tự nhiên - Xã h ội theo
chương trình sách giáo khoa mới. Tôi nhận thấy một giờ học T ự nhiên - Xã h ội
thường diễn ra tẻ nhạt. Lớp thường mất trật tự, đôi khi trầm quá mức. Đa số
học sinh không thích học hoặc hãi học giờ này.
Ngày 15.9.2005 tôi đã điều tra tâm lí của học sinh bằng phiếu trắc
nghiệm sau:
Phiếu trắc nghiệm tâm lí
Đánh dấu "X" vào

trước ý em cho là đúng.
10

1. Em có thích học môn Tự nhiên - Xã hội không?

Không
2. Giờ học Tự nhiên - Xã hội là.
Một giờ học sôi nổi.
Một giờ học tẻ nhạt vì phải thực hiện tuần tự các lệnh theo yêu cầu
SGK.
Một giờ học mà em thích nhất vì em cảm thấy thoải mái (h ọc mà ch ơi,
chơi mà học).

Kết quả thu được:
Kết quả
Nội dung

3A

1. Có thích học môn Tự nhiên - Xã hội
Không thích học môn Tự nhiên - Xã hội
2. Giờ học Tự nhiên - Xã hội là
 Một giờ học sôi nổi.
 Một giờ tẻ nhạt vì phải thực hiện tuần tự các l ệnh
trong sách giáo khoa.
 Một giờ mà em thích nhất

3B

SL
4
21

%
16
84

SL
2
23

%
8
92

1
24

4
96

2
23

8
92

0

0

0

0

Ngày 16.9.2005 tôi đã kiểm tra 2 lớp 3A và 3B với đề bài sau:
Thời gian: 5 phút
Đề bài:
1. Chọn các từ trong khung điền vào chỗ chấm (.....) cho phù hợp.
Các bô nic, ô - xi, khói, bụi, vi khuẩn, ô nhiễm, các bô nic
Không khí trong lành là không khí chứa nhiều ..... ít khí ....., ....., ....., ......
Không khí chứa nhiều khí ..... hoặc khói, bụi, vi khuẩn là không khí bị ......
2. Viết chữ Đ vào
trước câu trả lời đúng, S vào
tr ước câu tr ả l ời
sai.
Bệnh nào dưới đây thuộc bệnh đường hô hấp.
Viêm họng
Viêm phổi
11

Đau mắt
Đau bụng
Viêm khí quản

Viêm mũi
Viêm tai
Viêm phế quản

Kết quả thu được.
Số HS trả lời
Số HS trả lời
Số HS trả lời
đúng 90-100% số đúng từ 70-80% đúng 50-60% số
Dưới 50%
Lớp
câu hỏi
số câu hỏi
câu hỏi
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
3A
4
16
5
20
9
36
7
28
3B
3
12
4
16
10
40
8
32
Kết quả học tập của học sinh có được do nhiều nguyên nhân khách quan
và chủ quan đem tới. Song một điều tôi có thể khẳng định do tiết học quá t ẻ
nhạt không có sự sôi động như vốn sống của các em hằng có nên tạo ra tâm lí
chán hoặc sợ hãi. Chính áp lực tâm lí này làm kiến thức giáo viên cung c ấp b ị lu
mờ đi. Hiệu quả của quá trình lao động sư phạm thấp.
Phân tích nguyên nhân có những điều trên là do:

1. Về phía Giáo viên:
a. Giáo viên chưa coi trọng phương pháp trò chơi trong vi ệc d ạy môn T ự
nhiên - Xã hội. Bắt đầu vào giờ học giáo viên thường yêu c ầu các em làm vi ệc
như một cỗ máy không có sự thư giãn. Thao tác dạy học chính là: Yêu c ầu h ọc
sinh thực hiện tốt các lệnh trong sách giáo khoa. Từ quan sát tới thảo luận và
cuối cùng là kết luận chốt lại kiến thức.
Ví dụ ở tiết 2 bài: Nên thở như thế nào?
Giáo viên tiến hành 2 hoạt động.
+ Hoạt động 1: Thảo luận nhóm.
* Với mục tiêu để giải thích tại sao ta nên thở bằng miệng.
* Tiến hành: Giáo viên cho học sinh thảo luận cặp: Lấy g ương soi - quan
sát xem trong mũi có gì?
Giáo viên đưa một số câu hỏi cho học sinh thảo luận.
Học sinh báo cáo
Giáo viên kết luận
+ Hoạt động 2: Làm việc với sách giáo khoa
- Giáo viên cho học sinh quan sát hình 3, 4, 5 (SGK)
- Học sinh thảo luận theo câu hỏi của giáo viên.
12

Giáo viên kết luận.
Như vậy 2 hoạt động với các hình thức tổ chức khác nhau nhưng gi ờ h ọc
vẫn tẻ nhạt vì cỗ máy của học sinh phải làm việc không chút th ư giãn h ết th ảo
luận nhóm lại đến trả lời các câu hỏi của cô giáo.
b. Cũng có trường hợp Giáo viên lạm dụng quá phương pháp trò ch ơi vào
dạy học dẫn đến cả một tiết học sinh luôn trong tâm trạng thái quá. Mặt khác
do giáo viên tổ chức không "khéo" làm cho sự cổ vũ mạnh mẽ quá m ức c ần
thiết. Tất cả những điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mạch ki ến th ức trong
bài và những lớp ở xung quanh.
Ví dụ: Khi dạy bài: "Máu và cơ quan tuần hoàn" giáo viên đã mạnh
dạn chuyển các lệnh quan sát liên hệ thực tế bằng các trò chơi. Nhưng do đặc
thù tâm lí lứa tuổi các em chỉ lo sắm cho đạt vai di ễn mà vai di ễn đó ch ỉ là m ột
mốc dấu ấn nhỏ để giáo viên đưa học sinh tiếp cận t ới tri th ức m ới. Đ ến ho ạt
động 2 là trò chơi chép chữ vào hình. Giáo viên chia l ớp thành 2 nhóm, m ỗi
nhóm 4 học sinh chơi. Những tiếng reo hò cố lên! làm cả một dãy phòng h ọc
cũng bị ảnh hưởng theo.
c. Giáo viên chưa nắm bắt được biện pháp tổ chức trò chơi h ọc t ập trong
giờ Tự nhiên - Xã hội sao cho có hiệu quả. Với những bài trò chơi có vai trò
khám phá kiến thức giáo viên lại cho học sinh chơi theo hình thức nhóm (4 - 5
em) mà các học sinh tham dự đó thường là học sinh khá giỏi. Nên sau khi thu
được kết quả của yêu cầu chơi, giáo viên chốt lại kiến thức thì có đến 1/3 số
học sinh không nắm được kiến thức trọng tâm vì đó là những h ọc sinh trung
bình và yếu.
2. Về phía học sinh.
Do đặc điểm tâm lí của lứa tuổi nên khả năng chú ý tập trung còn y ếu,
tính kỉ luật chưa cao dễ mệt mỏi. Nếu phương pháp dạy học của giáo viên đ ơn
điệu không hấp dẫn sẽ tạo ra sức ỳ lớn cho học sinh.
VI. Biện pháp thực hiện

1. Về nhận thức:

13

Giáo viên cần nhận thức rõ vai trò của phương pháp trò ch ơi trong quá
trình dạy học ở Tiểu học nói chung và dạy môn Tự nhiên - Xã h ội nói riêng.
Phải hiểu rõ mục tiêu của từng bài, từng phần, từng mảng kiến th ức và toàn b ộ
chương trình môn Tự nhiên - Xã hội ở lớp 3.
2. Về nội dung
a. Nhóm 1:
Các trò chơi nhằm mục đích khai thác nội dung kiến thức của bài học.
* Khi vận dụng phương pháp trò chơi vào khai thác nội dung kiến thức
bài học giáo viên cần lưu ý.
- Chọn trò chơi phải phù hợp với học sinh, nội dung bài và điều kiện thực
tế có thể cho phép.
- ít nhất 3/4 số học sinh được tham gia.
- Cần tránh hiện tượng chỉ một số học sinh khá giỏi được tham gia
* Sau đây là một số trò chơi có thể áp dụng để tổ ch ức cho h ọc sinh khai
thác nội dung kiến thức bài học.
a1. Trò chơi: Tôi cần đến đâu?
* Mục tiêu:
- Nhận biết và chỉ được các cơ quan hành chính cấp tỉnh.
- Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh
- ứng xử nhanh.
* Cách chơi:
- Giáo viên nêu yêu cầu chơi: "Tôi cần đến đâu". Đây là trò ch ơi
yêu cầu các em quan sát kĩ bức tranh cô đã phóng to trên b ảng và l ắng nghe câu
hỏi của cô giáo hoặc của bạn. Nhiệm vụ của các em là nói đ ược tên n ơi mà cô
hoặc bạn cần đến sau đó lên chỉ nơi đó ở bức tranh trên bảng lớp.
- Luật chơi:
+ Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm A, B
+ Giáo viên nêu câu hỏi chỉ định 1 học sinh bất kì ở nhóm A
chỉ đường. Học sinh chỉ được thì được phép yêu cầu một học sinh khác ở nhóm
B chỉ đường đến nơi khác... cứ thế cho đến hết các địa điểm có trong tranh...
Nếu học sinh được chỉ định không nói được nơi đến hoặc chỗ đến sai em đó sẽ
nói "chuyển" để học sinh cùng nhóm với mình bên cạnh tiếp sức. Cứ mỗi lần
14