Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Soạn bài Tập làm thơ Tám chữ

Gửi bởi: Nguyễn Thị Ngọc vào ngày 2020-01-02 03:41:05

Mục lục
* * * * *
Tập làm thơ Tám chữ
Tập làm thơ Tám chữ

I. NHẬN DIỆN THỂ THƠ TÁM CHỮ

1. Đọc các đoạn thơ sau:

a.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy phần riêng bí mật

- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

(Thế Lữ, Nhớ rừng)

b.

Mẹ cùng cha công tác bận không về

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học

Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

(Bằng Việt, Bếp lửa)

c.

Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát

Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non

Yêu biết mấy, những con đường ca hát

Qua công trường mới dựng mái nhà son!

Yêu biết mấy, những bước đi dáng đứng

Của đời ta chập chững buổi đầu tiên

Tập làm chủ, tập làm người xây dựng

Dám vươn mình cai quản lại thiên nhiên!

(Tố Hữu, Mùa thu mới)

2. Suy nghĩ và thực hiện các yêu cầu sau:

a. Nhận xét về số chữ trong mỗi dòng ở các đoạn thơ trên (trang 148 SGK)

b. Tìm những chữ có chức năng gieo vần ở mỗi đoạn. Vận dụng kiến thức về vần chân, vần lưng, vần liền, vẫn gián cách đã học để nhận xét về cách gieo vần của từng đoạn.

c. Nhận xét về cách ngắt nhịp ở mỗi đoạn thơ trên.

Trả lời

a. Mỗi dòng (ở tất cả 3 đoạn trích) đều gồm 8 chữ.

b.

- Đoạn 1: các tiếng bắt vần nhau: tam - ngàn, suối - mới - gợi, bừng - rừng, gắt - mật.

➜ Nhận xét: gieo vần liên tiếp

- Đoạn 2: các tiếng bắt vần nhau: về - nghe, học - nhọc, bà – xa.

➜ Nhận xét: gieo vần liên tiếp

- Đoạn 3: các tiếng bắt vấn nhau: ngát - hát, non - son, đứng - đựng, tiên – nhiên.

➜ Nhận xét: gieo vần gián cách.

c. Cách ngắt nhịp của thể thơ tám chữ cũng rất đa dạng, linh hoạt. Chẳng hạn:

- Nào đâu/những đêm vàng/ bên bờ suối

Ta say mồi / đứng uống/ ánh trăng tan

Đâu những ngày / mưa chuyển / bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm / giang sơn ta/ đổi mới...

- Mẹ cùng cha/công tác bận / không về

Kêu chi hoài / trên những cánh đồng xa?

GHI NHỚ

- Thơ tám chữ là thể thơ mỗi dòng tám chữ, có cách ngắt nhịp rất đa dạng.

- Bài thơ theo thể tám chữ có thể gồm nhiều đoạn dài (số câu không hạn định), có thể được chia thành các khổ (thường mỗi khổ có bốn dòng) và có nhiều cách gieo vần nhưng phổ biến nhất là vần chân (được gieo liên tiếp hoặc gián cách)

LUYỆN TẬP

Bài 1. Đoạn thơ sau trích trong bài Tháp đổ của Tố Hữu. Hãy điền vào chỗ trống cuối các dòng thơ một trong các từ ngữ: ca hát, bát ngát, ngày qua, muôn hoa sao cho phù hợp.

Trả lời

Hãy cắt đứt những dây đàn /ca hát/

Những sắc tàn vị nhạt của /ngày qua/

Nâng đón lấy màu xanh hương /bát ngát/

Của ngày mai muôn thuở với /muôn hoa/

(Tố Hữu, Tháp đổ)

Bài 2. Đoạn thơ sau trích trong bài Vội vàng của Xuân Diệu. Hãy điền vào chỗ trống cuối các dòng thơ một trong các từ cũng mất, đất trời, tuần hoàn sao cho đúng vần.

Trả lời

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi /cũng mất/

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật.

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn /tuần hoàn/.

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả /đất trời/;

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông núi vẫn than thâm tiễn biệt...

Bài 3. Đoạn thơ sau trong bài Tựu trường của Huy Cận đã bị chép sai ở câu thứ  ba. Hãy chỉ ra chỗ sai, nói lí do và thử tìm cách sửa lại cho đúng.

Giờ nao nức của một thời trẻ dại

Hỡi ngói nâu, hỡi tường trắng, cửa gương!

Những chàng trai mười lăm tuổi rộn rã,

Rương nho nhỏ với linh hồn bằng ngọc.

Trả lời

- Câu thứ ba bị chép sai ở chữ rộn rã.

- Lí do: Đây là khổ thơ gieo vần gián cách. Lẽ ra hai chữ cuối cùng câu thứ 3 phải hợp vần với hai chữ cuối cùng câu thứ nhất. Vì chép sai nên rộn rã không vần được với trẻ lại.

- Sửa: Những chàng trai mười tám tuổi.

Bài 4. Hãy làm một bài (hoặc một đoạn thơ) theo thể tám chữ với nội dung và  vần, nhịp tự chọn để thực hành trên lớp.

Hướng dẫn

          Nếu chưa quen với thể thơ này, trước hết em chưa cần làm hay, mà hãy làm cho “xuôi nghĩa” (thông về nghĩa, không gượng ép đến nỗi mất cả nghĩa) và “xuôi tai” (đảm bảo đúng số chữ, có vần, có nhịp).

III. THỰC HÀNH LÀM THƠ TÁM CHỮ

Bài 1. Tìm những từ thích hợp (đúng thanh, đúng vần) để điền vào chỗ trống trong khổ thơ sau:

Trời trong biết không qua mây gợn trắng

Gió nồm nam lộng thổi cánh diều xa

Hoa lựu nở đây một/.../đỏ nắng

Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay /.../.

(Theo Anh Thơ, Trưa hè)

Trả lời

- Đọc toàn bộ khổ thơ để thấy khổ thơ này gieo vần gián cách: Tiếng “trắng” (câu 1) vần với tiếng “nắng” (câu 3). Vậy tiếng cuối cùng của câu 4 phải mang thanh bằng và chứa vần “a” để vần với “xa” ở câu 2. Tiếng thứ sáu câu 3 phải là thanh bằng để giữ nhịp (đổi thanh điệu so với câu 2).

- Khổ thơ chép đầy đủ là:

Trời trong biếc không qua mây gợn trắng,

Gió nồm nam lộng thổi cánh diều xa.

Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng,

Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua.

(Anh Thơ, Trưa hè)

Bài 2. Khổ thơ sau còn thiếu một câu. Hãy làm thêm câu cuối sao cho đúng vần, hợp với nội dung cảm xúc từ ba câu trước.

Mỗi độ thu về lòng xao xuyến lạ

Nhớ nôn nao tiếng trong buổi tựu trường

Con đường nhỏ tiếng nói cười rộn rã

/.../

Gợi ý

Em tự sáng tác câu thơ thứ tư. Gợi ý: Với 3 câu đã cho, ta thấy khổ thơ gieo vần gián cách: tiếng “lạ” (Câu 1) vầ với “rã” (Câu 3). Vậy tiếng cuối cùng câu 4 phải vần với “trường” (Câu 2). Ngoài ra còn phải tính đến sự phù hợp về nghĩa.

Lượt xem: 215