Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến nay Lịch sử 9

30636335646136666333613964666634323461633130366339376465643335666434613434373631353238653164626361623761353862306630626633353166
Gửi bởi: trung123 vào 11:37 AM ngày 5-12-2016 || Kiểu file: DOC Lượt xem: 1106 | Lượt Download: 5 | File size: 0 Mb

Nội dung tài liệu Tải xuống


Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Thông tin tài liệu

QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAYMục tiêu: Đây là chương bao gồm những vấn đề phức tạp và quan trọng của quan hệ quốc tếtrong vòng thập niên, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay (1945-2005).Trong chương này, sinh viên môn và môn II cần nắm được: Sự xác lập trật tự thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai mà thực chất là sự phânchia phạm vi ảnh hưởng giữa hai siêu cường Liên Xô và Mĩ. Sự đối đầu giữa hai siêu cường được thể hiện thông qua cuộc chiến tranh lạnh kéodài hơn thập niên làm cho tình hình thế giới luôn luôn căng thẳng, bên bờ vực chiếntranh. Từ nửa sau những năm 70, xu hướng hoà hoãn Đông Tây đã xuất hiện và từngbước dẫn tới việc kết thúc cuộc chiến tranh lạnh. Sự sụp đổ của Liên Xô cuối cùng đãdẫn tới sự giải thể trật tự hai cực Ianta. Sinh viên học môn cần lưu đến những nét chủ yếu của quan hệ quốc tế trong vàsau chiến tranh lạnh, tập trung vào những mâu thuẫn cơ bản và xu thế phát triển củaquan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Sinh viên môn chủ yếu tập trung vàotrật tự hai cực Ianta và sự sụp đổ của trật tự này.I. Sự hình thành trật tự hai cực Yalta và cuộc chiến tranh giữa Xô Mỹ và haikhối Đông Tây 1. Sự hình thành trật tự hai cực Yalta 1.1. Khái quát tình hình thế giới sau chiến tranh Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã dẫn tới những chuyển biến căn bản của tìnhhình quốc tế. Chiến tranh đã làm thay đổi hoàn toàn so sánh lực lượng trên phạm vi thếgiới. Châu Âu, với địa vị trung tâm của thế giới kể từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, bịsuy yếu nghiêm trọng. Các nước tư bản đứng đầu châu Âu như Anh, Pháp đều bị chiếntranh tàn phá. Dù là nước thắng trận nhưng Anh, Pháp đều không thể mở rộng phạm viảnh hưởng của mình như thời kì sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, hơn thế nữa, ngaycả sự thống trị đối với những vùng đất thực dân cũ cũng bị đe doạ. Các nước phát xít,kẻ thù chung của nhân loại đã bị tiêu diệt và hoàn toàn kiệt quệ. Châu Âu bị tách thànhhai khối Đông và Tây. Trong lúc đó, nước Mĩ đã vươn lên hết sức nhanh chóng về thếvà lực, trở thành một siêu cường khống chế toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa. Khichiến tranh kết thúc, nước Mĩ chiếm gần 60% tổng sản lượng công nghiệp, 3/4 trữlượng vàng của thế giới tư bản và là chủ nợ lớn nhất trên thế giới. Về quân sự, Mĩđứng đầu thế giới tư bản về lục quân, hải quân, không quân và nắm độc quyền về bomnguyên tử trong thời gian đầu sau chiến tranh. Các nước tư bản châu Âu và Nhật đềuphải dựa vào sự giúp đỡ của Mĩ để phục hồi kinh tế. Đây chính là cơ hội có một khônghai để Mĩ vươn lên nắm quyền lãnh đạo trong hệ thống tư bản chủ nghĩa và thực hiệnmưu đồ bá chủ thế giới. Chiến thắng vĩ đại của Liên Xô trong sự nghiệp tiêu diệt chủnghĩa phát xít đã dẫn tới những thay đổi về so sánh lực lượng có lợi cho Liên Xô vàcác lực lượng cách mạng trên thế giới. Vị trí quốc tế và ảnh hưởng của Liên Xô ngàycàng được mở rộng. Liên Xô trở thành một cường quốc quân sự, một nhân tố khôngthể thiếu trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Liên Xô cũng không còn là nước xãhội chủ nghĩa duy nhất bị cô lập trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Hàng loạtnước xã hội chủ nghĩa Đông Âu ra đời sau khi chiến tranh kết thúc, cùng với LiênXô đã tạo thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Đồng thời, phong trào giải phóngdân tộc ngày càng phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp các châu lục trên thế giới.Ngay trong chiến tranh, các nước châu á, châu Phi đã sát cánh cùng các lực lượngĐồng minh chống phát xít trong những điều kiện khó khăn, gian khổ, góp phần khôngnhỏ vào sự nghiệp chiến thắng phát xít, đồng thời chuẩn bị điều kiện cho cách mạnggiải phóng dân tộc sau khi chiến tranh kế tthúc. Cao trào cách mạng giải phóng dân tộcsau Chiến tranh thế giới thứ hai đã phá vỡ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốcbuộc các nước đế quốc phải thừa nhận nền độc lập của các dân tộc. Trong bối cảnh đó,Mặt trận đồng minh chống phát xít, hình thành trong chiến tranh, đứng trước nguy cơtan rã. Những mâu thuẫn trong nội bộ các lực lượng chống phát xít, vốn tạm thời dịuđi trong chiến tranh, nay ngày càng bộc lộ công khai. Ngay trong giai đoạn cuối củachiến tranh, Mĩ đã nhìn nhận Liên Xô như một lực lượng chính, có khả năng cản trởâm mưu bá chủ thế giới của mình. Khi thất bại của phe phát xít chỉ còn là vấn đề thờigian, cũng là lúc Mĩ bắt đầu triển khai chính sách kiềm chế Liên Xô. Quá trình tập hợplực lượng mới sau chiến tranh dựa trên cơ sở thức hệ và lợi ích quốc gia được bắtđầu từ Hội nghị Ianta (2 1945), khi chiến tranh còn chưa đi đến hồi kết. 1.2. Sự hình thành Trật tự hai cực Yalta Như trên đã nói, từ ngày đến 12 1945, tại thành phố Ianta (Crưm) đã diễn raHội nghị thượng đỉnh Tam cường Xô Mĩ Anh, với sự tham gia của nguyên thủ quốcgia ba nước Liên Xô, Mĩ, Anh là Stalin, Roosevelt và Churchill. Thực chất nội dunghội nghị là sự tranh giành và phân chia thành quả thắng lợi của chiến tranh giữa cáclực lượng tham chiến, có tác động quyết định đến trật tự thế giới sau chiến tranh. Saunhững thảo luận và tranh cãi quyết liệt, Hội nghị đã đi đến quyết định về việc kết thúcchiến tranh, việc tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật, việcthành lập tổ chức Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là việc Tam cường Xô- Mĩ Anh đã đi đến thoả thuận về việc phân chia phạm vi ảnh hưởng châu Âu vàchâu sau chiến tranh. Theo đó, châu Âu, các nước Trung và Đông Âu thuộc phạmvi ảnh hưởng của Liên Xô. Các nước Tây và Nam Âu sẽ thuộc phạm vi ảnh hưởng củaAnh, Mĩ. Về vấn đề Đức, Liên Xô sẽ chiếm đóng phần Đông Đức và Đông Béclin.Quân đội Mĩ, Anh, Pháp chiếm đóng phần Tây Đức và Tây Béclin. Riêng Áo và PhầnLan sẽ được hưởng quy chế trung lập. Châu Á, Hội nghị chấp nhận những điều kiện của Liên Xô về việc tham gia chiếntranh tiêu diệt quân phiệt Nhật, bao gồm: Duy trì nguyên trạng và công nhận nền độc lập của Mông Cổ. Trả lại cho Liên Xô những quyền lợi mà nước Nga bị mất sau chiến tranh Nga -Nhật (1904 1905) như: trả lại miền Nam đảo Xakhalin và quần đảo Curin, quốc tếhoá cảng Đại Liên (Trung Quốc), cho Liên Xô thuê cảng Lữ Thuận (Trung Quốc) làmcăn cứ hải quân, trả cho Liên Xô tuyến đường sắt Xibêri Trường Xuân, Liên Xô đượccùng khai thác tuyến đường sắt Hoa Đông và Nam Mãn Châu… Sau khi Nhật đầu hàng, quân đội Đồng minh (chủ yếu là Mĩ) sẽ chiếm đóng NhậtBản. Trung Quốc sẽ thu hồi lại Đài Loan, quần đảo Bành Hồ và Mãn Châu bị Nhậtchiếm. Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản sẽ tiến hành hiệp thương để thành lập Chínhphủ liên hiệp. Liên Xô và Mĩ có quyền lợi Trung Quốc. Triều Tiên sẽ do quân đội Liên Xô và Mĩ kiểm soát phía Bắc và Nam vĩ tuyến38, sau khi giải phóng sẽ trở thành quốc gia độc lập, thống nhất. Phần còn lại của châu (Đông Nam Á, Tây Á, Nam Á…) vẫn thuộc phạm vi ảnhhưởng truyền thống của các nước phương Tây. Những quyết định của Hội nghị Ianta về những vấn đề quan trọng nhất của thế giớisau chiến tranh đã trở thành nền tảng cơ sở cho việc thiết lập một trật tự thế giới mới,thường được gọi là Trật tự hai cực Ianta. Hai nước đứng đầu hai cực, Liên Xô và Mĩ,về cơ bản đã đạt được những mục tiêu mà mình theo đuổi. Đối với Liên Xô, lúc này làthời điểm mà vị thế quốc tế của Liên Xô đạt tới đỉnh cao nhất kể từ sau Cách mạngtháng Mười. Liên Xô trở thành nước duy nhất có thể tạo ra thế cân bằng với Mĩ, đồngthời là lực lượng có khả năng đưa chủ nghĩa xã hội vượt ra khỏi phạm vi một nước, trởthành một hệ thống thế giới. Tổng thống Mĩ cũng nhận thức rõ điều đó và chấp nhậnnhững thoả thuận với Liên Xô để cùng sắp xếp trật tự thế giới mới sau chiến tranh.Chính vì vậy, Trật tự hai cực Ianta là sự phản ánh một hiện thực mới của thế giới sauchiến tranh: sự cân bằng quyền lực giữa hai nước lớn Liên Xô và Mĩ trong quan hệquốc tế. 1.3. Tổ chức Liên Hợp Quốc (United Nations) Ngay từ những năm tháng chiến tranh thế giới diễn ra ác liệt, các nước trong pheĐồng minh đều đã nhận thức được sự cần thiết phải thành lập một tổ chức quốc tế mớirộng lớn hơn, hiệu quả hơn để thay thế cho Hội Quốc Liên trong sứ mệnh gìn giữ hoàbình, an ninh quốc tế, ngăn ngừa chiến tranh thế giới, thúc đẩy sự hợp tác giữa các dântộc. Hội nghị Thượng đỉnh Teheran với sự tham gia của những người đứng đầu banước Xô Mĩ Anh đã chuẩn và khẳng định việc thành lập Liên Hợp Quốc. Sau Hộinghị Teheran, một nhóm chuyên gia Washington được giao nhiệm vụ chuẩn bị choviệc thành lập tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới này. Những thoả thuận cụ thể liên quanđến việc thành lập Liên Hợp Quốc đã được thông qua tại Hội nghị Dumbarton Oak -ngoại Washington tháng 1944 và được khẳng định Hội nghị Thượng đỉnh Iantatháng 1945. Trên cơ sở đó, ngày 25 1945 tại Xan Phranxicô (Mĩ) đại diện của 50 quốc gia(sau này Ba Lan được mời kí vào Hiến chương, nâng tổng số nước sáng lập lên 51nước) đã tiến hành Hội nghị thành lập Liên Hợp Quốc. Sau hai tháng làm việc, Hộinghị đã thông qua Hiến chương Liên Hợp Quốc và thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc.Hiến chương gồm 19 chương với 111 điều khoản, là văn kiện nền tảng cơ bản xác địnhmục đích, nguyên tắc và các phương thức tổ chức, hoạt động của Liên Hợp Quốc.Hiến chương quy định mục đích cao nhất của Liên Hợp Quốc là nhằm duy trì hoàbình, an ninh thế giới, thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các nước trên cơ sở tôntrọng quyền bình đẳng giữa các quốc gia và nguyên tắc dân tộc tự quyết. Để thực hiệnmục đích nêu trên, Hiến chương quy định những nguyên tắc cơ bản của Liên HợpQuốc gồm: quyền bình đẳng giữa các quốc gia và quyền dân tộc tự quyết, tôn trọngtoàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước không can thiệp vào côngviệc nội bộ của bất kì quốc gia nào, giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế, chungsống hoà bình và nguyên tắc nhất trí giữa nước lớn: Liên Xô (nay là Liên bang Nga),Mĩ, Anh, Pháp, Trung Quốc. Về tổ chức, các cơ quan chính của Liên Hợp Quốc bao gồm Đại hội đồng, cuộc họp chung của đại diện các nước thành viên, họp mỗi nămmột lần để thảo luận những vấn đề có liên quan thuộc phạm vi Hiến chương đã quyđịnh. Đại hội đồng bầu ra các thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an, cácthành viên của Toà án quốc tế, của Hội đồng kinh tế xã hội, Hội đồng thác quản. Đạihội đồng chấp nhận hội viên mới hoặc khai trừ hội viên vi phạm Hiến chương theo đềnghị của Hội đồng bảo an. Những quyết định về các vấn đề quan trọng phải đượcthông qua với 2/3 số phiếu. Hội đồng Bảo an, cơ quan chính trị quan trọng nhất và hoạt động thường xuyêncủa Liên Hợp Quốc, chịu trách nhiệm chính về duy trì hoà bình và an ninh quốc tế.Hội đồng Bảo an gồm uỷ viên thường trực: Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp, Trung Quốc và6 uỷ viên không thường trực do Đại hội đồng bầu ra (từ tháng 1965 tăng lên 10 uỷviên không thường trực) với thời hạn hoạt động năm, phân bổ theo khu vực địa límột cách công bằng. Mọi quyết định của Hội đồng Bảo an phải được thông qua với sựnhất trí của uỷ viên thường trực, đồng thời mỗi uỷ viên thường trực cũng có quyềnphủ quyết (veto). Những nghị quyết của Hội đồng bảo an được thông qua phù hợp vớiHiến chương thì bắt buộc các nước Hội viên phải thi hành. Hội đồng bảo an khôngphục tùng Đại hội đồng. Hội đồng kinh tế xã hội, cơ quan chuyên trách về các lĩnh vực hợp tác liên quanđến đời sống vật chất, văn hoá của Liên Hợp Quốc, do Đại hội đồng bầu ra. Trực thuộcHội đồng kinh tế xã hội có nhiều thể chế chuyên môn hoá như Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF), Ngân hàng quốc tế về tái thiết và phát triển (WB), Tổ chức Lương Nông(FAO), Tổ chức Liên Hợp Quốc về giáo dục, khoa học và văn hoá (UNESCO)… Toà án quốc tế, cơ quan luật pháp chính của Liên Hợp Quốc, có nhiệm vụ giảiquyết những tranh chấp có tính chất pháp lí giữa các nước thành viên. Ban thư kí, cơ quan hành chính của Liên Hợp Quốc, đứng đầu là Tổng thư kí doĐại hội đồng bầu ra năm một lần theo sự giới thiệu của Hội đồng Bảo an. Ngoài ra, Liên Hợp Quốc còn có các cơ quan chuyên trách như Hội đồng quảnthác và các tổ chức trực thuộc khác. Trụ sở của Liên Hợp Quốc đặt tại New York (Mĩ).Liên Hợp Quốc được thành lập vào lúc Chiến tranh thế giới thứ hai chuẩn bị kết thúcvà ngay sau đó là sự bắt đầu cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối Đông Tây. Nhữngmâu thuẫn gay gắt giữa hai cường quốc Xô Mĩ trong chiến tranh lạnh đã ảnh hưởngsâu sắc đến những hoạt động của tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới này. Bước vào thậpniên 60 của thế kỷ XX, từ thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, hàng loạt nướcmới giành được độc lập và trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc. Với số lượngthành viên đông đảo hơn, trong thành phần Liên Hợp Quốc đã hình thành ba lựclượng: các nước xã hội chủ nghĩa, các nước tư bản chủ nghĩa và các nước mới giànhđược độc lập. Điều đó đòi hỏi các nghị quyết của Liên Hợp Quốc phải tính đến lợi íchcủa cả ba lực lượng này. Trong 60 năm tồn tại, Liên Hợp Quốc đã chứng tỏ vai trò to lớn của mình trong đờisống chính trị quốc tế. So với Hội Quốc Liên, Liên Hợp Quốc thể hiện rõ tính chấttoàn cầu: thành phần bao gồm hầu hết các quốc gia độc lập trên tất cả các châu lục vàđặc biệt là tính toàn diện: chương trình nghị sự không chỉ tập trung vào vấn đề duy trìhoà bình, an ninh mà bao gồm cả các hoạt động nhằm thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩathực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trên các lĩnh vựckinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học kĩ thuật… Với tư cách là một tổ chức đa phươngtoàn cầu lớn nhất với sự tham gia của hầu hết các quốc gia trên thế giới, Liên HợpQuốc là diễn đàn toàn cầu duy nhất để thúc đẩy đối thoại, hiểu biết chung giữa cácnước và là tổ chức không thể thiếu được trong đời sống chính trị quốc tế. Tuy nhiên,với sự thay đổi của tình hình thế giới, số lượng thành viên của Liên Hợp Quốc đã tănglên khoảng lần (từ 51 nước năm 1945 lên 191 nước năm 2002), trong đó đa số là cácnước đang phát triển với chí độc lập, tự chủ ngày càng mạnh mẽ. Điều đó đòi hỏiLiên Hợp Quốc phải đổi mới bộ máy và phương thức làm việc để thực sự trở thànhmột tổ chức quốc tế đại diện cho lợi ích chân chính của tất cả các quốc gia, dân tộctrên thế giới. Nhận xét những hoạt động của Liên Hiệp Quốc đối với việc giải quyết các vấn đềhòa bình trên thế giới: Vấn đề người Do Thái: đây là nhiệm vụ đầu tiên và cũng là nhiệm vụ quan trọngcủa Liên Hiệp Quốc trong thời kỳ đầu hoạt động trên thế giới. Người Do Thái là mộtbộ tộc sinh sống vùng đất Israel Palestine từ lâu đời. Sau khi mất nước, họ phải thaphương nhưng vẫn luôn mong muốn được trở về quê hương có từ lâu đời của mình, vàtư tưởng "phục quốc Do Thái" (chủ nghĩa Sion) ra đời từ đó. Sau khi Thế chiến II kếtthúc, người Do Thái đã lập tức thành lập quốc gia Do Thái Israel làm các nước rậprất tức giận, và họ phát động tấn công. Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã phái một pháiđoàn do bá tước Bernadotte dẫn đầu sang hòa giải và bước đầu thành công. Việc nàycủa Liên Hiệp quốc thể hiện hai vấn đề sau. Thứ nhất, các nước sẽ chấp nhận dừngxung đột một khi Liên Hiệp Quốc hòa giải sự việc này một cách tốt nhất. Thứ hai,Liên Hiệp Quốc là tổ chức của nhiều quốc gia, nhưng không quốc gia nào sẵn lòng hysinh quyền lợi của mình vì quyền lợi chung. Tổ chức này cho phép các nước lớn đượctrình bày quan điểm của mình và buộc các nước nhỏ phải theo quan điểm của mình Vấn đề Indonesia: Hà Lan muốn làm chủ lại thuộc địa này trong khi nhân dân xứnày tuyên bố độc lập trước khi Nhật lui quân. Khi Hà Lan quay trở lại chiếm vùng này,Liên Hiệp Quốc đã đạt ủy ban điều đình nhưng bất thành, biết được điều đó, Mỹ còndọa cắt ngân khoản của Hà Lan... kết quả là Hà Lan chấp nhận cho Liên Hiệp Quốccan thiệp và Indonesia độc lập. Nguyên nhân chính để Hà Lan cho Liên Hiệp quốc canthiệp đó là Hà Lan không chống nổi cuộc đấu tranh của nhân dân Indonesia. 1.4. Việc giải quyết vấn đề các nước phát xít bại trận sau chiến tranh Việc giải quyết vấn đề các nước phát xít chiến bại, tiến tới bình thường hoá quan hệgiữa các nước thắng trận với các nước bại trận, có nghĩa đặc biệt quan trọng trongviệc thiết lập trật tự thế giới mới sau chiến tranh và giữ gìn hoà bình, an ninh cho thếgiới. Trước hết là vấn đề Đức, vấn đề trung tâm của châu Âu sau chiến tranh. Hội nghịPốtxđam (17 1945 đến 1945) đã xác định những nguyên tắc cơ bản về việcphi quân sự hoá nước Đức, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít, thủ tiêu nền côngnghiệp quân sự chiến tranh, thực hiện các quyền tự do, dân chủ, đưa nước Đức trởthành một quốc gia thống nhất, hoà bình và dân chủ. Hội nghị Pốtxđam đồng thời cũngkhẳng định rằng, lực lượng Đồng minh không hề có định tiêu diệt hay biến nhân dân- dân tộc Đức thành nô lệ, như điều đã từng xảy ra sau Chiến tranh thế giới thứ nhất(1914 1918). Theo quyết định của Hội nghị Pốtxđam, bốn nước Liên Xô, Mĩ, Anh vàPháp sẽ tạm thời chiếm đóng nước Đức: Liên Xô khu vực phía Đông, ba nước Mĩ,Anh, Pháp khu vực phía Tây. Để xét xử tội phạm chiến tranh, Toà án quốc tếNuyrembe đã tổ chức trên 400 phiên họp kéo dài từ tháng 10 1945 đến 1946. Cácnước đồng minh được nhận những khoản bồi thường chiến tranh các khu vực chiếmđóng và từ các nguồn đầu tư của Đức nước ngoài. Về vấn đề Nhật Bản, Tuyên bố Pốtxđam đã quy định những nguyên tắc cơ bảntrong việc giải quyết vấn đề Nhật Bản sau chiến tranh như: Nhật Bản phải đầu hàngĐồng minh vô điều kiện, quân đội Đồng minh sẽ chiếm đóng lãnh thổ Nhật, chủ quyềncủa Nhật được giới hạn trong đảo chính (Hốccaiđô, Hônsư, Kiusiu và Xicôcư) vàmột số đảo phụ cận, quân đội Nhật bị giải giáp, dân chủ hoá nước Nhật và thủ tiêuhoàn toàn chủ nghĩa quân phiệt, giải tán các tập đoàn kinh tế công nghiệp quân sự, xétxử các tội phạm chiến tranh, nước Nhật phải chịu trách nhiệm bồi thường chiếntranh… Sau khi Nhật Bản đầu hàng, lấy danh nghĩa quân Đồng minh, quân đội Mĩ đãchiếm đóng toàn bộ Nhật Bản. Liên Xô phản đối quyết liệt hành động độc chiếm NhậtBản của Mĩ và yêu cầu thành lập một Uỷ ban quản chế Nhật Bản. Hội nghị ngoạitrưởng cường quốc (Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp, Trung Quốc) tháng 12 1945 ởMátxcơva đã đi đến thoả thuận cho phép các nước Đồng minh chủ yếu tham gia hoạchđịnh và kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với Nhật. Uỷ ban Viễn Đông đượcthành lập Oasinhtơn, sau đó Uỷ ban đồng minh về Nhật Bản cũng được thành lập ởTôkiô. Tuy nhiên, cả hai uỷ ban này đều bị Mĩ khống chế. Tháng 10 1950, Chính phủMĩ đưa ra dự thảo về Hoà ước kí với Nhật do Mĩ đơn phương soạn thảo. Hành độngcủa Mĩ đã bị Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa và dư luận tiến bộ trênthế giới kịch liệt phản đối. Sau đó, Mĩ tổ chức Hội nghị hoà bình Xan Phranxicô (9 -1951) để kí kết hoà ước với Nhật. Hoà ước Xan Phranxicô là một hoà ước riêng rẽ,không bao gồm chữ kí của tất cả các nước tham chiến, vi phạm thô bạo quyền lợi củacác nước tham gia chống Nhật mà không được mời tham dự Hội nghị hoặc không kívào Hoà ước (Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc). Hoà ước là văn kiện dọn đường cho Mĩtiếp tục chiếm đóng nước Nhật và hình thành liên minh Mĩ Nhật, phục vụ cho chínhsách thù địch của Mĩ đối với các nước xã hội chủ nghĩa. Về việc kí kết hoà ước với các nước bại trận khác (Italia, Bungari, Hunggari,Rumani và Phần Lan), sau nhiều năm đấu tranh gay gắt, cuối cùng các hoà ước đãđược kí kết tại Hội hoà bình Pari ngày 10 1947. Khác với Hoà ước Vécxai năm1919, sự tham dự và vai trò của Liên Xô đã làm thay đổi nội dung và tính chất của cáchoà ước. Nội dung các hoà ước về cơ bản đã đáp ứng được lợi ích của nhân dân cácnước chiến thắng, đồng thời cũng không quá khắt khe, nặng nề với nhân dân các nướcbại trận. Như vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một trật tự thế giới mới đã hìnhthành theo khuôn khổ thoả thuận Ianta với hai cực, đứng đầu là Liên Xô và Mĩ. Trật tựhai cực Ianta được các cường quốc thắng trận thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ hainhằm đảm bảo những lợi ích chính trị, kinh tế của mình. Tuy nhiên, nếu so với Hệthống Versailles Washington, được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918), Trật tự hai cực Ianta có những nét khác biệt cơ bản. Trước hết, đó là sự đối lậpvề hệ tư tưởng giữa hai cực, một bên là Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, lực lượnghậu thuẫn cho phong trào cách mạng thế giới, với một bên là Mĩ, nước đứng đầu thếgiới tư bản với vai trò hậu thuẫn cho các lực lượng phản cách mạng và âm mưu vươnlên vị trí thống trị thế giới. Cuộc đối đầu giữa hai cực diễn ra gay gắt, quyết liệt, kéodài hơn thập kỉ, kéo theo sự đối đầu giữa hai khối Đông Tây và cuốn hút nhiềuquốc gia, khu vực vào vòng xoáy căng thẳng, phức tạp của nó. Tuy nhiên, về cơ cấu tổchức, với việc thanh toán chiến tranh, duy trì hoà bình, an ninh sau chiến tranh, việc kíkết hoà ước với các nước chiến bại… Trật tự hai cực Ianta thể hiện sự tiến bộ và tíchcực hơn so với Hệ thống Vécxai Oasinhtơn. Đặc biệt, vai trò, tính ưu việt của LiênHợp Quốc so với Hội Quốc Liên trong việc giám sát, duy trì hoà bình, an ninh thế giới,phát triển sự hợp tác về mọi mặt giữa các quốc gia… đã thể hiện một bước tiến mớicủa nhân loại trong quan hệ quốc tế nửa sau thế kỉ XX. Ảnh hưởng của trật tự hai cực Yalta đối với các mối quan hệ toàn cầu Trước hết, đây là lần đầu tiên kể từ khi thế giới có trật tự, quan hệ quốc tế đượcphân tuyến, tổ chức theo hai hệ thống chính trị xã hội đối lập, trong đó lần đầu tiênchủ nghĩa tư bản mất quyền đơn phương định đoạt các vấn đề toàn cầu bởi sự xuấthiện một đối trọng mới, một chủ thể chính trị xã hội được xem là tiên tiến nhất: chủnghĩa xã hội. Và cũng là lần đầu tiên, chủ nghĩa xã hội đã tham gia quyết định chiềuhướng phát triển của lịch sử nhân loại. Hai là, trật tự hai cực đã làm xuất hiện một kiểu quan hệ quốc tế mới dựa trênnhững nguyên tắc hoàn toàn mới mẻ. Những nguyên tắc đó phụ thuộc vào sự biếnchuyển trong các cặp quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội; giữa chủnghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đối với các nước thuộc Thế giới thứ ba; giữa nội bộchủ nghĩa tư bản trên thế giới và giữa nội bộ các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Ba là, trong hơn 40 năm tồn tại trật tự thế giới hai cực do Liên Xô và Mĩ làm đạidiện, các thế lực phản động thế giới đứng đầu là đế quốc Mĩ đã gây ra cuộc chạy đuavũ trang khốc liệt, đã tiến hành các cuộc chiến tranh cục bộ đẫm máu… Nhưng thếgiới vẫn có những chuyển biến sâu sắc theo hướng tích cực: Thứ nhất, với sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cùng với sự ra đời và lớn mạnhcủa hàng trăm quốc gia độc lập trẻ tuổi, nhân loại đã chuyển từ kỷ nguyên dân tộc bịthực dân thống trị sang kỷ nguyên độc lập dân tộc. Sức mạnh của các cường quốc đếquốc ngày nay không thể đè bẹp được chí độc lập của các dân tộc. Vai trò của cácnước đang phát triển ngày càng tăng trên thế giới. Với sự giải phóng các dân tộc thuộcđịa, một bộ phận rất to lớn của lực lượng lao động thế giới được giải phóng trở thànhđộng lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thế giới. Thứ hai, với sự hình thành và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa mộtđối trọng của hệ thống tư bản chủ nghĩa, đã có tác dụng ngăn chặn sự áp bức bóc lột vànô dịch của chủ nghĩa tư bản trên một bộ phận rất lớn của thế giới (điều mà trước đâykhông hề có); tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc dân chủ vàtiến bộ xã hội của các dân tộc phát triển mạnh mẽ. Thứ ba, hơn 40 năm qua với sự tồn tại trật tự hai cực, đã không diễn ra chiếntranh thế giới, hòa bình thế giới về cơ bản vẫn được giữ vững. Đó là cuộc đấu tranhmạnh mẽ của toàn thể nhân dân tiến bộ trên thế giới chống chiến tranh xâm lược vànguy cơ chiến tranh hạt nhân hủy diệt và bảo vệ hòa bình. Nhưng mặt khác là do sựcân bằng về quân sự chiến lược giữa Liên Xô và Mĩ, buộc cả hai phải tránh đụng đầutrực tiếp về quân sự, vì nếu chiến tranh thế giới nổ ra chắc chắn sẽ không có kẻ chiếnthắng trong cuộc đụng đầu vũ khí hạt nhân hủy diệt này. Thứ tư, hơn 40 năm qua, nền kinh tế thế giới đang vượt ra khỏi phạm vi quốcgia và các ngăn cách khu vực để trở thành một thị trường có tính toàn cầu, bao trùmthế giới. Từ đây, lực lượng sản xuất thế giới sẽ được giải phóng mạnh mẽ để tiến tớinhững bước đột phá trong phát triển kinh tế thế giới trong những năm tới. Sự khác biệt trật tự hai cực Yalta với trật tự trước đó: trật tự Versailles -Washington Như đã nói phần trước, khi một trật tự cũ không còn phù hợp với tình hìnhquốc tế thì nó ngay lập tức sẽ bị xóa bỏ và thay vào đó là một trật tự mới hoàn thiệnhơn, phù hợp với lợi ích của một số cường quốc muốn làm bá chủ thế giới thời đó.Năm 1945, theo thỏa thuận của Hội nghị Yalta (2/1945), một trật tự mới đã ra đời thaythế cho trật tự lạc hậu, lỗi thời, đó là trật tự hai cực Yalta. So với trật tự đầu tiên, trật tựlần này có nhiều sự khác biệt cơ bản: Đó là sự phân chia khu vực ảnh hưởng, chủ yếu là của hai siêu cường Xô Mỹ,những lực lượng chủ lực đánh bại chủ nghĩa phát xít quốc tế. Với bản chất chế độchính trị khác nhau, hai nước đã nhanh chóng từ liên minh chống phát xít trở thành đốiđịch nhau, mỗi nước tập hợp chung quanh mình nhiều đồng minh, lập thành phe tưbản cộng sản. Đó là trật tự hai cực Yalta, và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử,các trậttự quốc tế, thế giới lại được phân đôi với hai siêu cường hùng mạnh đến thế. Nếu trong trật tự Versailles Washington, quyền lực chi phối thuộc về cáccường quốc tư bản Anh, Pháp, Mỹ thì trong trật tự Yalta tình hình đã thay đổi. Liên Xô- nhà nước XHCN đứng đầu một cực đối trọng với Mỹ siêu cường cực kia. Liên Xôtrở thành thành trì của cách mạng thế giới, làm hậu thuẫn cho phong trào xã hội chủnghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Các nướcđế quốc không còn có thể hoàn toàn thao túng các quan hệ quốc tế, quyết định số phậncủa các dân tộc như trong trật tự Versailles Washington trước kia. Sự đối đầu giữa hai siêu cường và hai phe TBCN và XHCN. Thế giới phân đôivới cuộc "Chiến tranh lạnh" căng thẳng, chạy đua vũ trang ráo riết và các khối liênminh chính trị quân sự liên tiếp ra đời. Thế giới như luôn bên bờ vực của cuộc chiếntranh hủy diệt và đã diễn ra các cuộc chiến tranh cục bộ mà thực chất là sự đối đầugiữa hai phe, như cuộc chiến tranh giữa hai miền Triều Tiên (1950 1953), cuộc chiếntranh của nhân dân nước Đông Dương chống đế quốc Mỹ là cuộc chiến tranh cục bộlớn nhất giữa hai phe. Tuy đối đầu quyết liệt như vậy, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau (chạyđua vũ khí hạt nhân, chạy đua kinh tế dưới tác động của khoa học kỹ thuật) mà haisiêu cường Xô Mỹ thực hiện chiến lược phòng ngự, các nước lớn như Trung Quốc,Anh, Pháp, Liên Xô đều hết sức tránh nguy cơ phải đụng đầu trực tiếp với các nướclớn hơn. Do đó, thế giới trong trật tự này diễn ra nhiều xu hướng: đối đầu, hòa hoãn,đấu tranh và hợp tác. Liên Hiệp Quốc ra đời vào giai đoạn sau Thế chiến II với nhữngtham khảo kinh nghiệm của Hội Quốc Liên trước kia, đã trở thành một diễn đàn thếgiới vừa đấu tranh vừa hợp tác, đặc biệt chính nguyên tắc nhất trí giữa nước ủy viêncủa tổ chức này đã trở thành nguyên tắc thực tiễn lớn đảm bảo cho chung sống hòabình, vừa đấu tranh vừa hợp tác đó, đồng thời nguyên tắc này còn nhằm ngăn chặnkhông để một cường quốc nào khống chế được LHQ vào mục đích bá quyền của mình. 2. Cuộc chiến tranh lạnh 2.1. Chủ nghĩa Truman và sự bắt đầu chiến tranh lạnh Sau khi chiến tranh kết thúc, những rạn nứt chính trị trong quan hệ Xô Mĩ ngàycàng lớn, đặc biệt là trong vấn đề Đông Âu. Với ảnh hưởng và sự giúp đỡ của LiênXô, hàng loạt nước Đông Âu đã thực hiện những cải cách tiến bộ và trở thành nhữngnước dân chủ nhân dân. Trong khi đó, Mĩ tìm mọi cách để ngăn cản quá trình cáchmạng Đông Âu, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội và thực hiện mưu đồbá chủ thế giới. Sau khi Tổng thống Rudơven qua đời (4 1945), H. Truman lên làmTổng thống và bắt đầu thực hiện chính sách cứng rắn với Liên Xô. Tháng 1947,Truman đọc bài diễn văn trước Quốc hội, thực chất là công bố chính sách đối ngoạimới, được gọi là Học thuyết Truman, nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô vàchủ nghĩa cộng sản. Truman yêu cầu Quốc hội viện trợ khẩn cấp cho Hi Lạp và ThổNhĩ Kì để chống lại “sự đe doạ” của Liên Xô, thiết lập sự thống trị của Mĩ khu vựcphía Đông Địa Trung Hải, một khu vực có tầm chiến lược quan trọng ngay sát LiênXô. Với học thuyết Truman, Mĩ công khai từ bỏ hợp tác với Liên Xô trong việc giảiquyết các vấn đề quốc tế như đã từng diễn ra trong Chiến tranh thế giới thứ hai và bắtđầu cuộc Chiến tranh lạnh chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.Sau khi phát động Chiến tranh lạnh, Mĩ tìm cách lôi kéo các đồng minh vào cácliên minh do Mĩ khống chế để tăng cường lực lượng chống Liên Xô và chủ nghĩa xãhội. Ngày 1947, ngoại trưởng Mĩ G. Marshall đọc một bài diễn văn tại trườngđại học Harvard, công bố “kế hoạch phục hưng châu Âu” bằng viện trợ của Mĩ. Tháng 1947, 16 nước tư bản châu Âu đã họp Hội nghị kinh tế Pari để bànvề việc tiếp nhận kế hoạch Mácsan. Từ tháng 1948, kế hoạch Mácsan bắt đầu đượcthực hiện, Mĩ đã chi khoảng 12,5 tỉ đôla cho kế hoạch này. Nền kinh tế các nước TâyTrên đây chỉ là phần trích dẫn 10 trang đầu của tài liệu và có thế hiển thị lỗi font, bạn muốn xem đầyđủ tài liệu gốc thì ấn vào nút Tải về phía dưới.