Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Phân tích hình tượng nhân vật khách trong “Phú sông Bạch Đằng” (Bạch Đằng giang phú) của Trương Hán Siêu

64313762623430386634646132643463613730366262626435353938623837353936393438643738653037333134643965383362653431393438383461393866
Gửi bởi: Nguyễn Thùy Dương vào 10:23 AM ngày 14-07-2016 || Kiểu file: DOC Lượt xem: 9777 | Lượt Download: 283 | File size: 0 Mb

Nội dung tài liệu Tải xuống


Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Thông tin tài liệu

Doc24.vnPhân tích nhân vật Khách trong “Phú sông Bạch Đằng” (Bạch Đằng giang phú) củaTrương Hán Siêu.Dàn ý:Mở bàiGiới thiệu về Trương Hán Siêu, tác phẩm Phú sông Bạch Đằng (hoàn cảnh ra đời cua bàiphú), giới thiệu về hình tượng nhân vật khách.Thân bài– Hình tượng nhân vật khách: tư thế của một con người có tâm hồn khoáng đạt.+ Khách dạo chơi phong cảnh không chỉ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên mà cònnghiên cứu cảnh trí đất nước, bồi bổ tri thức.+ Hoài bảo lớn lao: “Nơi có chẳng biết”; “Đầm Vân Mộng chứa ……vẫn còn thathiết”.– Tráng chí của khách được gợi lên qua hai loại địa danh:+ Địa danh trong diển cố Trung quốc: rong chơi bể lớn, Sông Nguyên, Tương, Vũ huyệt,Cửu Giang, Ngũ Hồ,Tam Ngô, Bách Việt những vùng đất nổi tiếng, khách đã đi quabằng sách vở.+ Địa danh thứ hai là những dia danh đất Việt, với không gian cụ thể: cửa Đại Than, bếnĐông Triều, sông Bạch Đằngà hình ảnh hiện tại mang tính đương đại hiện ra trước mắt+ Cảnh sắc thiên nhiên hiện lên hùng vĩ hoành tráng “Bát ngát sóng kinh muôn dặm –thướt tha đuôi trĩ một màu”.+ Song cũng ảm đạm, hắt hiu “bờ lau san sát, bến lách đìu hiu Sông chìm giáo gãy, gòđầy xương khô”.Doc24.vn=> Tâm hồn phong phú nhạy cảm, tâm trạng của khách vừa vui vừa tự hào trước cảnhsong hùng vĩ, thơ mộng “nước trời: một sắc phong cảnh: ba thu”, tự hào trước òng ôncòn ghi bao chiến tích. Nhưng vừa buồn đau, tiếc nuối vì chiến trường xưa một thời oanhliệt nay trơ trọi, hoang vu, thời gian đã làm mờ bao dấu vết.– Nghệ thuật: lời văn linh hoạt, hình tượng nghệ thuật sinh động, vừa gợi hình sắc trựctiếp, vừa mang nghia khái quát, tính triết lí, ngôn từ trang trọng, hào hùng, vừa lắngđọng,gợi cảm.Kết bàiVới hình tượng nhân vật khách, bài phú thể hiện lòng yêu nướ và niềm tự hào dân tộc, tựhào vè truyền thống anh hùng và tư tưởng nhân văn cao đẹp. Sự hoài niệm về quá khứ làniềm tự hào về truyên thống dan tộc của tác giả.Bài làm“ Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là nhân vật trữ tình không ai khác màchính là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật “khách” không mấy xa lạ.“Ngọc tỉnh liên phú” (bài phú Sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (?-1346) cũng có nhânvật “khách”: “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trongngắm làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” đây là Mạc Đĩnh Chibiểu lộ tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ đời.Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực,tâm hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là một tao nhân với rượu túi thơ“chơi vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mìnhvới thiên nhiên, du ngạon thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”,ngày thì: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”,…Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên Tương, CửuGiang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ởDoc24.vnđây chỉ mang nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên thathiết, lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình:“ Nơi có người điĐâu mà chẳng biết”.Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian bao la, chỉ cónhững người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới có thể “giương buồm…lướtbể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà“Khách” đã “chứa vài trăm trong dạ”, đã thăm thú nhiều lần đã từng thưởng ngoạn baocảnh đẹp tương tự. Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết” với bốn phương trời.“ Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiềuMà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy chữ “nhàn” làmtrọng, gián tiếp phủ định lợi danh tầm thường.“ Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng”Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông Bạch Đằng.Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử Trương” đi về phía Đông Bắc“buông chèo” cho thỏa chí “tiêu diêu”. Người xưa nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã TửTrường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tácgiả bộ “Sử ký” bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn được xemlà nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với cánh buồm thơ lần theosông núi:“ Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều,Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo”“ Bát ngát sóng kình muôn dặm”Bạch Đẳng giang, con sông oai hùng của Tổ Quốc Đại Việt. Sông rộng và dài, cuồncuộn nhấp nhô sóng biếc.Cuối thu (ba thu) nước trời một mầu xanh bao la Bát ngát sóngkình muôn dặm Thướt tha đuôi trĩ một màu- Nước trời: một sắc- Phong cảnh ba thu ”.Doc24.vnCâu văn tả rhực mượn một hình ảnh của Vương Bột trong bài “Đằng Vương các”“Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” (Sông thu cùng với trời xa một màu) Tả con sóngBạch Đằng, vua Trần Minh Tông (1288-1356) viết: Thuồng luồng nuốt thuỷ triều, cuộnlàn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối- Lầmtưởng rằg máu người chết vẫn chưa khô” (Bạch Đằng giang Dịch nghĩa). Cảnh núi non,bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh chiến trường rùng rợn một thời:“ Bờ lau san sátBến lách đìu hiuSông chìm giáo gãyGò đầy xương khôBờ lau, bến lách gợi tả không khí hoang vu. hiu hắt. Núi gò, bờ bãi trập trùng nhưgươm giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét vẽ hoành tráng ấy, một thế kỷsau Ức Trai cũng viết: Ngạc chặt kình băm non lởm chởm Giáo chìm gươm gãy bãidăng dăng” (“Cửa Biển Bạch Đằng”).Trương Hán Siêu miêu tả dòn sông Bạch Đằng bằng những đường nét, máu sắc gợicảm.Nhũng ẩn dụ và liên tưởng mói về dòng sông lịch sử hùng vĩ được miêu tả quanhững cặp câu song quan và tứ tự tuyệt đẹp. Mấy chục năm sau trận đại thắng trên sôngBạch Đằng(1288) nhà thơ đến thăm dòng sông cảm thương xúc động:“ Buồn vì cảnh thảmĐứng lặng giờ lâuThương nỗi anh hùng đâu vắng táTiếc thay dấu vết luống còn lưu”.Một tâm trạng: “buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “đứng lặng giờ lâu” của “khách”đều biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu sắc, vô hạn đối với anh hùng liệtsĩ đã đem xương máu bảo vệ dòng sông vá sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷchung “uống nước nhớ nguồn”“ Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”Doc24.vnCác bô lão nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và trữ tình, nhà thơchuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống đọng biến hoá hẳn lên, Cảm hứng lịch sử mang âmđiệu anh hùng ca dâng lên dào dạt như những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách vàbô lão ngắm dòng sông, nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào hùngoanh liệt của tổ tiên:“ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt mã,Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao”.Trên đây chỉ là phần trích dẫn 10 trang đầu của tài liệu và có thế hiển thị lỗi font, bạn muốn xem đầyđủ tài liệu gốc thì ấn vào nút Tải về phía dưới.