Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du

8c7db8244a98fea950c5687f10ef1619
Gửi bởi: Nguyễn Quang Hưng vào ngày 2016-12-23 07:17:38 || Kiểu file: DOC Lượt xem: 916 | Lượt Download: 11 | File size: 0 Mb

Nội dung tài liệu Xem trước tài liệu

Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Thông tin tài liệu

Doc24.vnPhân tích tác phẩm Độc Tiểu Thanh Kí của Nguyễn DuDàn ýI. ĐẶT VẤN ĐỀ:1. Nguyễn Du đại thi hào dân tộc, nhà thơ hiện thực và nhân đạo lớn nhất trongvăn học Việt Nam thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX không chỉ nổi tiếng với“Truyện Kiều” mà ông còn là nhà thơ sáng tác bằng chữ Hán điêu luyện.2. “Thanh Hiên thi tập” là những sáng tác bằng chữ Hán thể hiện tình cảm sâu sắccủa Nguyễn Du với thân phận con người nạn nhân của chế độ phong kiến.3. Trong đó, Đọc Tiểu Thanh ký là một trong những sáng tác đưọc nhiều ngườibiết đến, thể hiện sâu sắc tư tưởng Nguyễn Du và làm người đọc xúc động vì tìnhcảm nhân đạo cao cả của nhà thơ.II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:A. Định hướng phân tích:1. Độc Tiểu Thanh ký có nghĩa là “đọc tập Tiểu Thanh ký” của nàng Tiểu Thanh.Đó là người con gái có thật, sống cách Nguyễn Du 300 năm trước đời Minh(Trung Hoa). Nàng là người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì làm lẽ nên bị vợ cảghen, đày ra sống Cô Sơn cạnh Tây Hồ. Buồn rầu, nàng sinh bệnh chết và để lạitập thơ. Nhưng vợ cả vẫn ghen nên đốt tập thơ, chĩ còn lại một số bài thơ tập hợptrong “phần dư”. Bản thân cuộc đời Tiểu Thanh cũng đã để lại niềm thuơng cảmsâu sắc cho Nguyễn Du.2. Cảm hứng xuyên suốt toàn bài được diễn tả trong khuôn khổ cô đúc của thể thơĐường luật thất ngôn bát cú. Nguyễn Du khóc người cũng để tự thương mình. Dùlà cảm xúc về một cuộc đời bất hạnh đã cách ba trăm năm, nhưng thực chất cũnglà tâm sự của nhà thơ trước thời cuộc.B. Chi tiết:1. Hai câu đề: Hai câu mở đầu của bài thơ giúp người đọc hình dung ra hình ảnhcủa nhà thơ trong giờ phút gặp gỡ với tiếng lòng của Tiểu Thanh :Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khưĐộc điếu song tiền nhất chỉ thưDoc24.vn(Tây hồ cảnh đẹp hóa gò hoangThổn thức bên song mảnh giấy tàn)a) Hai câu thơ dịch đã thoát nguyên tác nên làm giảm đi phần nào hàm súc tíchcủa câu thơ chữ Hán. Nguyễn Du không nhằm tả cảnh đẹp Tây Hồ mà chỉ mượnsự thay đổi của không gian để nói lên một cảm nhận về biến đổi của cuộc sống.Cách diễn đạt vừa tả thực vừa gợi nghĩa tưọng trưng. “Tây hồ hoa uyển” (vườnhoa Tây Hồ) gợi lại cuộc sống lặng lẽ của nàng Tiểu Thanh vưòn hoa cạnh TâyHồ một cảnh đẹp nổi tiếng của Trung Hoa. Nhưng hàm tượng trưng được xáclập trong mối quan hệ giữa “vườn hoa gò hoang”. Dường như trong cảm quanNguyễn Du, những biến thiên của trời đất đều dễ khiến ông xúc động. Đó là nỗiniềm “bãi bể nương dâu” ta đã từng biết Truyện Kiều. Nhìn hiện tại để nhớ vềquá khứ, câu thơ trào dâng một nỗi đau xót ngậm ngùi cho vẻ đẹp chỉ còn trong dĩvãng.b) Trong không gian điêu tàn ấy, con người xuất hiện với dáng vẻ cô đơn, như thumọi cảm xúc trong hai từ “độc điếu”. Một mình nhà thơ ngậm ngùi đọc một tậpsách (nhất chỉ thư). Một mình đối diện với một tiếng lòng Tiểu Thanh 300 nămtrước, câu thơ như thể hiện rõ cảm xúc trang trọng thành kính với di cảo của TiểuThanh. Đồng thời cũng thể hiện sự lắng sâu trầm tư trong dáng vẻ cô đơn. Cáchđọc ấy cũng nói lên được sự đồng cảm của nhà thơ với Tiểu Thanh, “điếu” là bàytỏ sự xót thương với người xưa. Không phải là tiếng “thổn thức” như lời thơ dịch,mà nước mắt lặng lẽ thấm vào trong hồn nhà thơ.2. Hai câu thực:Hai câu thực đã làm sáng tỏ cho cảm giác buồn thuơng ngậm ngùi trong hai câuđề:Chi phấn hữu thần liên tử hậuVăn chương vô mệnh lụy phần dư(Son phấn có thần chôn vẫn hậnVăn chương không mệnh đốt còn vương)a) Nhà thơ mượn hai hình ảnh “son phấn” và “văn chương” để diễn tả cho nhữngDoc24.vnđau đớn dày vò về thể xác và tinh thần của Tiểu Thanh gửi gắm vào những dòngthơ. Theo quan niệm xưa, “son phấn” vật trang điểm của phụ nữ có tinh anh(thần) vì gắn với mục đích làm đẹp cho phụ nữ. Cả hai câu thơ cùng nhằm nhắc lạibi kịch trong cuộc đời Tiểu Thanh một cuộc đời chỉ còn biết làm bạn với sonphấn và văn chương để nguôi ngoai bất hạnh.b) Mượn vật thể để nói về người. Gắn với những vật vô tri vô giác là những từ ngữchỉ cho tính cách, số phận con người như “thần” và “mệnh”. Lối nhân cách hóa thểhiện rõ cảm xúc xót xa của nhà thơ về những bất hạnh của kiếp người qua số phậncủa Tiểu Thanh. Kết cục bi thảm của tiểu Thanh xuất phát từ sự ghen tuông, lòngđố kỵ tài năng của người đời. Dù chỉ là những đồ vật vô tri vô giác thì chúng cũngphải chịu số phận đáng thương như chủ nhân son phấn bẽ bàng, văn chương đốtdở. Hai câu thơ đã gợi lên sự tàn nhẫn của bọn người vô nhân trước những conngười tài hoa. Đồng thời, cũng thể hiện nhận thức của Nguyễn Du vốn rất nhạycảm trước cuộc đời của khách “hồng nhan bạc phận”, gắn với quan niệm “tàimệnh tương đố” của Nho gia. Vật còn như thế, huống chi người! Vượt lên trênnhững ảnh hưởng của thuyết thiên mệnh là cả tấm lòng giàu cảm thương củaNguyễn Du.3. Hai câu luận:Từ số phận của Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã khái quát thành cái nhìn về con ngườitrong xã hội phong kiến:Cổ kim hận sự thiên nan vấnPhong vận kỳ oan ngã tự cư(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏiCái án phong lưu khách tự mang)a) Nỗi oan của Tiểu Thanh không phải chỉ của riêng nàng mà còn là kết cục chungcủa những người có tài từ “cổ” chí “kim”. Nhà thơ gọi đó là “hận sự”, một mốihận suốt đời nhắm mắt chưa yên. Trong suy nghĩ ấy, có lẽ Nguyễn Du còn liêntưởng đến bao cuộc đời như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ những người có tài mà ônghằng ngưỡng mộ và bao người tài hoa bạc mệnh khác nữa. Những oan khuất bếDoc24.vntắc của nghìn đời “khó hỏi trời” (thiên nan vấn). Câu thơ đã giúp ta hình dung rõcuộc sống của những nạn nhân chế độ phong kiến, dồn nén thái độ bất bình uất ứcủa nhà thơ với thời cuộc, đồng thời cũng thể hiện một sự bế tắc của Nguyễn Du.b) Khóc người để thương mình, cảm xúc đồng điệu đã làm thành câu thơ bất hủ“phong vận kỳ oan ngã tự cư” (Ta tự cho mình cũng trong số những kẻ mắc nỗioan lạ lùng vì nết phong nhã. đó là tình cảm chân thành đồng điệu của NguyễnDu, cũng thể hiện tầm vóc lớn lao của chủ nghĩa nhân đạo rất đẹp và rất sâu củaông.c) Không phải chỉ một lần nhà thơ nói lên điều này. Ông đã từng hóa thân vàonàng Kiều để khóc thay nhân vật, ông đã từng khẳng định một cách đầy thức“thuở nhỏ, ta tự cho là mình có tài”. Cách trông người mà ngẫm đến ta ấy, trongthi văn cổ điển Việt Nam trước ông có lẽ hiếm ai thể hiện sâu sắc như vậy. Tự đặtmình “đồng hội đồng thuyền” với Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã tự phơi bày lòngmình cùng nhân thế. Tâm sự chung của những ngưòi mắc “kỳ oan” đã đưọc bộcbạch trực tiếp mạnh mẽ trong tiếng nói riêng tư khiến người đọc cũng không khỏingậm ngùi. Tâm sự ấy không chỉ của riêng Nguyễn Du mà còn là nỗi niềm của cácnhà thơ thời bấy giờ.4. Hai câu kết:Khép lại bài thơ là những suy tư của Nguyễn Du về thời thế :Bất tri tam bách dư niên hậuThiên hà hà nhân khấp Tố Như(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữaNgười đời ai khóc Tố Như chăng)a) Khóc cho nàng Tiểu Thanh ba trăm năm trước bằng giọt lệ chân thành của tráitim đồng điệu, dòng suy tưởng đã đưa nhà thơ đến ba trăm năm sau cùng một mốihồ nghi khó giải tỏa. Tiểu Thanh còn có tấm lòng tri kỷ của Nguyễn Du tìm đến đểrửa những oan khiên bằng giọt nưóc mắt đồng cảm. Còn nhà thơ tự cảm thấy sự côđộc lẻ loi trong hiện tại. Câu hỏi người đời sau ẩn chứa một khát khao tìm gặp tấmlòng tri âm tri kỷ giữa cuộc đời. (Đó cũng là tâm trạng của Khuất Nguyên –Doc24.vn“người đời say cả một mình ta tỉnh”, cách Nguyễn Du hai nghìn năm; của Đỗ Phủ,cách Nguyễn Du một nghìn năm “Gian nan khổ hận phồn sương mấn&rdquob) Nhà thơ tự thể hiện mình bằng tên chữ “Tố Như” không phải mong “lưu danhthiên cổ” mà chỉ là tâm sự của một nỗi lòng tha thiết với cuộc đời. Câu thơ còn làtâm trạng bi phẫn của nhà thơ trước thời cuộc. Khóc ngưòi xưa, nhà thơ tự khóccho chính mình, giọt lệ chảy quanh kết lại một bóng hình Nguyễn Du, lặng lẽ côđơn khiến người đọc phải se lòng khi ngẫm đến những nỗi đau thấm thía và dày vòtinh thần của những ngưòi tài hoa phải sống trong bóng đêm hắc ám của một xãhội rẻ rúng tài năng.III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ:1. Đã hơn hai trăm năm trôi qua, bài thơ của Nguyễn Du vẫn còn lưu giữ một tấmlòng với con người sâu sắc và chân thành. Đó là tình cảm không biên giới, vượtthời gian, xuất phát từ gốc rễ “thương người như thể thương thân” của dân tộc.2. Không phải đợi đến ba trăm năm sau, ánh sáng của thời đại mới đã làm sángmãi tên tuổi của Nguyễn Du trong lòng dân tộc, tên tuổi Tố Như đã làm vinh danhdân tộc Việt Nam. Cuộc sống đã đổi thay, nhiều niềm vui của dân tộc đang nhânlên trước cánh cửa vào thế kỷ XXI, thế nhưng chúng ta vẫn trân trọng và cảmthông nỗi buồn của Nguyễn Du nỗi buồn thời đại quá khứ. Thời đại mới giải tỏacho những bế tắc của Nguyễn Du và thời đại của ông, tiếp thu tinh thần nhân bảndân tộc ấy :Hỡi Người xưa của ta nayKhúc vui xin lại so dây cùng Người(Kính gửi cụ Nguyễn Du Tố Hữu)Doc24.vnBài văn mẫu 1Độc Tiểu Thanh kí là một trong những bài thơ chữ Hán hay nhất của NguyễnDu in trong Thanh Hiên thi tập. Có thể Nguyễn Du sáng tác bài này trước hoặc saukhi được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc.Thắng cảnh Tây Hồ gắn liền với giai thoại về nàng Tiểu Thanh tài sắc vẹntoàn, sống vào đầu đời nhà Minh. Vì hoàn cảnh éo le, nàng phải làm vợ lẽ mộtthương gia giàu có Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Vợ cả ghen, bắt nàng trongngôi nhà xây biệt lập trên núi Cô Sơn. Nàng có làm một tập thơ ghi lại tâm trạngđau khổ của mình. ít lâu sau, Tiểu Thanh buồn mà chết, giữa lúc tuổi vừa mườitám. Nàng chết rồi, vợ cả vẫn ghen, đem đốt tập thơ của nàng, may còn sót một sốbài được người đời chép lại đặt tên là Phần dư (đốt còn sót lại) và thuật luôn câuchuyện bạc phận của nàng.Nguyễn Du đọc những bài thơ ấy, lòng dạt dào thương cảm cô gái tài hoa bạcmệnh, đồng thời ông cũng bày tỏ nỗi băn khoăn, day dứt trước số phận bất hạnhcủa bao con người tài hoa khác trong xã hội cũ, trong đó có cả bản thân ông.Phiên âm chữ Hán:Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khưĐộc điếu song tiền nhất chỉ thư.Doc24.vnChi phấn hữu thần liên tử hậu,Văn chương vô mệnh lụy phần dư.Cổ kim hận sự thiên nan vấn;Phong vận kì oan ngã tự cư.Bất tri tam bách dư niên hậu,Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?Dịch thơ Tiếng Việt:Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.Son phấn có thần chôn vẫn hận,Văn chương không mệnh đốt còn vương.Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,Cái án phong lưu khách tự mang.Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,Người đời ai khóc Tố Như chăng?Đến với Tiểu Thanh ba trăm năm sau ngày nàng mất, trong lòng nhà thơNguyễn Du dậy lên cảm xúc xót xa trước cảnh đời tang thương dâu bể:Tây Hổ hoa uyển tẫn thành khư,(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,)Câu thơ có sức gợi liên tưởng rất lớn. Cảnh đẹp năm xưa đã thành phế tích, đãbị hủy hoại chẳng còn lại gì. Trên gò hoang ấy chôn vùi nắm xương tàn của nàngTiểu Thanh xấu số. Nói đến cảnh đẹp Tây Hồ, chắc hẳn tác giả còn ngụ nói vềcon người đã từng sống đây, tức Tiểu Thanh. Cuộc đời của người con gái tài sắcnày cũng chẳng còn lại gì ngoài những giai thoại về nàng. Cảnh ấy khiến tình nàynhân lên gấp bội. Trái tim của nhà thơ thổn thức trước những gì gợi lại một kiếpngười bất hạnh:Độc điếu song tiền nhất chi thư.(Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.)Tiểu Thanh đã bày tỏ tâm trạng của mình qua những bài thơ đó như thế nào?Doc24.vnChắc chắn là nỗi buồn tủi cho thân phận, nỗi xót xa cho duyên kiếp dở dang vàthống thiết hơn cả là nỗi đau nhân tình không người chia sẻ. Tiếng lòng TiểuThanh đồng điệu với tiếng lòng Nguyễn Du nên mới gây được xúc động mãnh liệtđến thế. Nhà thơ khóc thương Tiểu Thanh tài hoa bạc mệnh, đồng thời cũng làkhóc thương chính mình kẻ cùng hội cùng thuyền trong giới phong vận.Nguyễn Du cỏ cảm giác là dường như linh hồn Tiểu Thanh vẫn còn vương vấnđâu đây. Nàng chết lúc mới mười tám tuổi trong cô đơn, héo hắt, đau khổ. Oan hồncủa nàng làm sao tiêu tan được?Chi phấn hữu thần liên tử hậu,Văn chương vô mệnh lụy phần dư:(Son phấn có thần chôn vẫn hận,Văn chương không mệnh đốt còn vương.)Ba trăm năm đã qua nhưng tất cả những gì gắn bó với nàng vẫn như còn đó.Chi phấn (son phấn) nghĩa bóng chi phụ nữ; tức Tiểu Thanh. Son phấn là vật đểtrang điểm, song nó cung tượng trưng cho sắc đẹp phụ nữ. Mà sắc đẹp thì có thần(thần chữ Hán cũng có nghĩa như hồn) nó vẫn sống mãi với thời gian như Tây Thi,Dương Quý Phi tên tuổi đời đời còn lưu lại. Nỗi hận của son phấn Cũng là nỗi hậncủa Tiểu Thanh, của sắc đẹp, của cái Đẹp bị hãm hại, dập vùi. Nó có thể bị đàyđọa, bị chôn vùi, nhưng nó vẫn để thương để tiếc cho muôn đời.Văn chương là cái tài của Tiểu Thanh nói riêng và cũng là vẻ đẹp tinh thần củacuộc đời nói chung. Văn chương vô mệnh bởi nó đâu có sống chết như người? Ấyvậy mà đây, nó như có linh hồn, cũng biết giận, biết thương, biết cố gắng chốngchọi lại bạo lực hủy diệt để tổn tại, để nói với người đời sau những điều tâm huyết.Dụ nó có bị đốt, bị hủy, nhưng những gì còn sót lại vẫn khiến người đời thươngcảm, xót xa. Nhà thơ đã thay đổi số phận cho son phấn, văn chương, để chúngđược sóng và gắn bó với Tiểu Thanh, thay nàng nói lên nỗi uất hận ngàn đời. Haicâu thơ đầy vị ngậm ngùi, cay đắng, như một tiếng khóc thổn thức, nghẹn ngào.Đến hai câu luận:Cổ kim hận sự thiên nan vấn,Doc24.vnPhong vận kì oan ngã tự cư.(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,Cái án phong lưu khách tự mang.)Nhà thơ tiếp tục bày tỏ niềm thương cảm của lòng mình. Câu thơ: cổ kim hậnsự thiên nan vấn chứa đựng sự tuyệt vọng. Từ nỗi hận nhỏ là hận riêng cho sốphận Tiểu Thanh, Nguyễn Du nâng cao, mở rộng thành nỗi hận truyền kiếp từ xưatới nay của giới giai nhân tài tử. Tài hoa bạc mệnh, đó có phải là quy luật bất di bấtdịch của Tạo hóa Là định mệnh rõ ràng khắt khe của số phận? Nếu đúng như thếthì nguyên nhân là do đâu? Trải mấy ngàn năm, điều đó đã tích tụ thành nỗi oánhờn to lớn mà không biết hỏi ai. Nỗi oan lạ lùng của những kẻ tài sắc như TiểuThanh cũng là nỗi oan của những người tài hoa bạc mệnh rõ ràng là vô lí, bấtcông, nhưng khó mà hỏi trời vì trời cũng không sao giải thích được (thiên nanvấn). Do đó mà càng thêm hờn, thêm hận.Phong vận câu thơ thứ sáu không có nghĩa là sự phong lưu về vật chất mà làsự phong lưu về tinh thần, Nói cách khác là chỉ cái tâm, cái tài của những kẻ tàihoa. Con người tài hoa là tinh túy của trời đất, vậy mà sao số phận họ lại nhiều vấtvả, truân chuyên đến vậy? Nguyễn Du đã từng viết: Chữ tài liền với chữ tai mộtvần. Bởi thế nên phong lưu đã thành cái án chung thân mà khách (kẻ tài hoa) phảimang nặng suốt đời. Oái ăm thay, biết là vậy mà bao thế hệ văn nhân tài tử vẫn tựmang nó vào mình. Nguyễn Du đã nhập thân vào Tiểu Thanh để nói lên nhữngđiều bao đời nay vẫn cứ mãi băn khoăn, dằn vặt.Càng ngẫm nghĩ, nhà thơ càng thương tiếc Tiểu Thanh và càng thương thânphận mình. Từ thương người, ông chuyển sang thương thân:Bất tri tam bách dư niên hậu, .Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,Người đời ai khóc Tố Như chăng?)Câu hỏi đậm sắc thái tu từ cho thấy Nguyễn Du vừa băn khoăn vừa mong đợingười đời sau đồng cảm và thương cảm cho số phận của mình. Có thể hiểu ba trămDoc24.vnnăm là con số tượng trưng cho một khoảng thời gian rất dài. Nguyễn Du muốnbày tỏ là giờ đây, một mình ta khóc nàng, coi nỗi oan của nàng như của ta. Vậy saunày liệu có còn ai mang nỗi oan như ta nhỏ lệ khóc ta chăng Câu thơ thể hiệntâm trạng cô đơn của nhà thơ vì chưa tìm thấy người đồng cảm trong hiện tại nênđành gửi hi vọng da diết ấy vào hậu thế. Hậu thế không chi khóc cho riêng TốNhư, mà là khóc cho bao kiếp tài hoa tài tử khác.Nhà thơ thấy giữa mình và Tiểu Thanh có những nét đồng bệnh tương liên.Tiểu Thanh mất đi, ba trăm năm sau có Nguyễn Du thương xót cho số phận nàng.Liệu sau khi Tố Như chết ba trăm năm, có ai nhớ tới ông mà khóc thương chặng?Câu thơ như tiếng khóc xót xa cho thân phận, thương mình bơ vơ, cô độc,không kẻ tri âm, tri kỉ; một mình ôm mối hận của kẻ tài hoa bạc mệnh giữa cõiđời. Dường như nhà thơ, đang mang tâm trạng của nàng Kiều sau bao sóng giócuộc đời: Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa.Mở đầu bài thơ là thương người, kết thúc bài thơ là thương thân. Tứ thơ khôngcó gì lạc điệu bởi đến đây, Tiểu Thanh và Nguyễn Du đã hòa làm một một sốkiếp tài hoa mà đau thương trong muôn vàn số kiếp tài hoa đau thương trong xãhội phong kiến cũ.Bài thơ cho thấy niềm thương cảm của Nguyễn Du đối với con người mênhmông biết chừng nào! Nó không bị giới hạn bởi thời gian và không gian. NguyễnDu không chỉ thương người đang sống mà thương cả người đã khuất mấy trămnăm. Thương người, thương mình, đó là biểu hiện cao nhất của đạo làm người.Đời người hữu hạn mà nỗi đau con người thì vô hạn. Trái tim đa cảm của nhà thơrất nhạy bén trước nỗi đau to lớn ấy. Giống như truyện Kiều, Độc Tiểu Thanh kí làđỉnh cao tư tưởng nhân văn của đại thi hào Nguyễn Du.Bài văn mẫu 2Nguyễn Du là một cái tên mà nhắc đến thì ai cũng biết. Tên tuổi của ôngthường gắn liền với Truyện Kiều thế nhưng ông còn nhiều sáng tác khác nữa. Cóthể nói Nguyễn Du là một người có sự đồng cảm với những người phụ nữ đươngthời. Chính vì thế những bài thơ của ông thường khóc cho số phận của những conTrên đây chỉ là phần trích dẫn 10 trang đầu của tài liệu và có thế hiển thị lỗi font, bạn muốn xem đầyđủ tài liệu gốc thì ấn vào nút Tải về phía dưới.