Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Ôn thi vào lớp 10 môn Văn phần Tiếng Việt

Gửi bởi: Phạm Thọ Thái Dương vào ngày 2020-06-24 04:24:47

Mục lục
* * * * *

I. KIẾN THỨC VỀ TỪ VỰNG

1. Cấu tạo từ và cách phân loại từ

2. Nghĩa của từ

Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, hiện tượng…) mà từ biểu thị.

    - Cách để giải nghĩa của từ:

       + Trình bày khái niệm mà từ biểu thị.

       + Mô tả sự vật, hoạt động, đặc điểm, đối tượng mà từ biểu thị.

3. Các biện pháp tu từ từ vựng

II. CÁC VẤN ĐỀ VỀ NGỮ PHÁP

1. Từ loại tiếng Việt

2. Các thành phần câu

3. Câu phân theo mục đích nói

4. Biến đổi câu

5. Xét kiểu câu theo cấu tạo ngữ pháp

6. Liên kết câu

7. Một số biện pháp tu từ cú pháp

8. Các phương châm hội thoại

III. HỆ THỐNG BÀI TẬP

Câu 1: Hãy xác định các hiện tượng chuyển nghĩa của từ dưới đây:

a,

Mùa xuân là Tết trồng cây

Làm cho đất nước càng ngày càng xuân.

(Hồ Chí Minh)

b,

Mùa xuân người cầm súng

Lộc giắt đầy trên lưng

Mùa xuân người ra đồng

Lộc trải dài nương mạ

(Thanh Hải)

c,

Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

(Chính Hữu)

d,

Đầu súng trăng treo

(Chính Hữu)

Trả lời:

a, Mùa xuân: nghĩa gốc chỉ một mùa trong năm.

Xuân (Làm cho đất nước càng ngày càng xuân): chỉ sức sống, sự phát triển, sự trường tồn, vững mạnh.

b, Mùa xuân: nghĩa gốc chỉ mùa trong năm.

c, Từ “đầu” mang nghĩa gốc: chỉ một bộ phận trên cùng của con người, nơi có não bộ điều khiển toàn bộ hoạt động, suy nghĩ của con người.

d, Từ đầu ở đây là nghĩa chuyển (chuyển theo phương thức ẩn dụ) chỉ một bộ phận trên cùng của súng, nơi có họng súng.

Câu 2: Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật trong các đoạn trích dưới đây:

a,

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

b,

Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

(Bếp lửa, Bằng Việt)

c,

Bấy lâu nghe tiếng má đào

Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

d,

Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời

Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng

(Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ)

e,

Cá nhụ cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

(Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá)

Trả lời:

a, Điệp từ “buồn trông” kết hợp với các hình ảnh đứng sau gợi ra bức tranh tâm trạng của con người. Kiều nhìn cảnh vật bên ngoài một màu buồn tẻ, vô vọng bởi trong lòng nàng nỗi buồn sự bế tắc đang dâng lên từng lớp, từng lớp.

- Điệp ngữ tạo âm hưởng cho nỗi buồn, trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng chính là điệp khúc của nỗi buồn.

b, Biện pháp điệp ngữ

- Các điệp từ “nhóm” được lặp lại trong câu bồi đắp thêm sự kì lạ và thiêng liêng của tình bà cháu và của bếp lửa.

- Từ nhóm còn mang ý nghĩa ẩn dụ khi thể hiện sự khơi dậy niềm yêu thương, ký ức đẹp, có giá trị trong cuộc đời đứa cháu.

Người bà truyền cho cháu hơi ấm khơi dậy trong lòng đứa cháu tình yêu cuộc sống.

c, Biện pháp hoán dụ

Má đào: chỉ người con gái trẻ đẹp.

Mắt xanh: chỉ thái độ ân cần đặc biệt với người mình yêu thích.

Nghĩa của hai câu thơ này: Từ Hải thể hiện sự trân trọng, đề cao Kiều (dù nàng là gái thanh lâu). Từ Hải cho rằng người xứng với Kiều phải là người anh hùng toàn tài (người hiếm có trong thiên hạ).

d, Biện pháp tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

“giọt long lanh” được hiểu theo nghĩa ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: tiếng chim từ chỗ là âm thanh cảm nhận bằng thính giác, nay chuyển thành “từng giọt” (hình khối, hình ảnh) cảm nhận bằng thị giác. Điều này thể hiện sự tinh tế, cũng như sự trân trọng những vẻ đẹp của tự nhiên và cuộc sống của nhà thơ Thanh Hải.

e, Biện pháp tu từ liệt kê

Liệt kê tên các loại cá dưới biển: cá nhụ, cá chim, cá đé, cá song nhằm mục đích thể hiện sự giàu có, trù phú của đại dương, biển cả.

Câu 2: Phân tích cấu tạo ngữ pháp của các câu sau:

a, Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối phần nào tâm trạng của anh.

(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)

b, Phi - líp vẫn đứng, trán úp vào mu bàn tay to lớn tì ở cán búa dựng trên đe.

(Bố của Xi - mông, Mô-pa-xăng)

c, Khi tâm hồn ta đã rèn luyện thành một sợi dây đàn sẵn sàng rung động trước mọi vẻ đẹp của vũ trụ, trước mọi cái cao quý của cuộc đời, chúng ta là người một cách hoàn toàn hơn.

(Thanh lam, Theo dòng)

d, Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề quen biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy xa lạ chút nào.

(Tôi đi học, Thanh Tịnh)

e, Không khéo rồi thằng con trai anh lại trễ mất chuyến đò trong ngày, Nhĩ nghĩ một cách buồn bã, con người trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, vả lại nó đã thấy có gì đáng hấp dẫn ở bên kia sông đâu?

(Nguyễn Minh Châu, Bến quê)

Trả lời:

Câu 3:

Thế nào là thành phần tình thái?

Xác định thành phần tình thái trong những câu sau và nêu hiệu quả của việc sử dụng thành phần ấy.

a,

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về

(Hữu Thỉnh, Sang Thu)

b,

Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!

(Nam Cao, Lão Hạc)

Lượt xem: 16

Các bài học liên quan