Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Ôn thi Đại học môn Văn theo Chuyên đề: Tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân

Gửi bởi: Phạm Thọ Thái Dương vào ngày 2020-05-11 07:13:41 || Kiểu file: DOC Lượt xem: 227 | Lượt Download: 0 | File size: 0.18688 Mb

Nội dung tài liệu Xem trước tài liệu

Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Thông tin tài liệu

Ôn thi Đại học môn Văn theo Chuyên đề:
Tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân - Ngữ văn 12
Câu 1: Những suy nghĩ và đánh giá của anh (chị) về người vợ nhặt – người đàn
bà không tên trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
Gợi ý trả lời:
Hoàn cảnh của nhân vật: Cách gọi tên, dáng vẻ, ngoại hình gợi vẻ đáng thương
tội nghiệp
- Người “vợ nhặt” là nạn nhân của nạn đói với cuộc sống trôi nổi, bấp bênh
- Thị xuất hiện vừa bằng ngoại hình vừa bằng tính cách c ủa một con ng ười
năm đói
- Trong hoàn cảnh trôi dạt, người vợ nhặt có lòng ham sống mãnh liệt
- Đằng sau vẻ nhếch nhác là người phụ nữ ý tứ biết điều…..
- Người vợ nhặt lại là một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan, có ý
thức xây dựng hạnh phúc gia đình.
- Đánh giá nghệ thuật xây dựng miêu tả nhân vật của nhà văn và vai trò c ủa
nhân vật trong việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm.
Hình ảnh người “vợ nhặt” là một sáng tạo của Kim Lân. Thông qua nhân vật
này, nhà văn đã thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Con người Việt Nam dù
sống trong hoàn cảnh khốn cùng nào cũng sẽ luôn hướng về tương lai với niềm
tin vào sự sống. …
Câu 2: Cảm nhận về hình ảnh nồi cháo cám và vẻ đẹp của các nhân vật trong
đoạn văn sau:
“ …Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có đ ộc m ột lùm
rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon
lành. Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà lão nói toàn
chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này:
- Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tin r ằng cái ch ỗ đ ầu b ếp kia

làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả m ấy mà có ngay
đàn gà cho mà xem…
Tràng chỉ vâng. Tràng vâng rất ngoan ngoãn. Chưa bao giờ trong nhà này m ẹ con
lại đầm ấm, hòa hợp như thế. Câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng
lại. Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã h ết nh ẵn. Bà
lão đặt đũa bát xuống, nhìn hai con vui vẻ:
- Chúng mày đợi u nhá. Tao có cái này hay lắm cơ.
Bà lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút.
Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa
cười:
- Chè đây. – Bà lão múc ra một bát – Chè khoán đây, ngon đáo để cơ.
Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt th ị t ối l ại. Th ị
điềm nhiên và vào miệng. Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn
tươi cười, đon đả:
- Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà còn chả
có cám mà ăn đấy.
Gợi ý trả lời:
Mở bài: Vài nét về tác giả- tác phẩm- đoạn văn
Thân bài:
- Vị trí của chi tiết trong truyện ngắn (tóm tắt : nằm trong phần cuối của truyện
ngắn , cụ thể đó là món ăn duy nhất của cả nhà trong buổi sáng ngày hôm sau )
- Ý nghĩa:
+ Chi tiết trên thể hiện tình trạng cùng cực của người dân lao động trong n ạn
đói 1945
+ Đối với gia đình Tràng, nồi cháo cám là món ăn xua tan cơn đói, là món ăn duy
nhất của bữa ăn đón nàng dâu mới về. Trong hoàn cảnh của n ạn đói năm 1945,
khi mà “Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”, nồi cháo cám lại là món
ăn không thể không có.
+ Qua chi tiết nồi cháo cám, tính cách của nhân vật được bộc lộ :

Bà cụ Tứ: Người mẹ đảm đang, yêu thương con hết mực (bà đã dậy sớm chuẩn
bị bữa ăn cho cả nhà; hơn thế nữa khi cái đói đang rình r ập bà v ẫn c ố g ắng đ ể
có được bữa ăn giản dị cho con trai của mình; để các con đỡ tủi h ờn, bà g ọi
chệch “cháo cám” là “chè khoán” và tạo không khí vui vẻ trong bữa ăn).
Tràng: “Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng. Mặt hắn chun
ngay lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”, cách ứng xử này vừa cho
thấy Tràng là người chồng có trách nhiệm với nỗi thẹn không thể dành cho
người vợ mới cưới của mình một bữa ăn đủ đầy; vừa cho thấy Tràng là người
con hết sức khéo léo trong cách cư xử với mẹ, hiểu rõ đ ược hoàn c ảnh c ủa gia
đình mình.
Vợ Tràng: qua chi tiết này ta càng khẳng định được sự thay đổi về tính cách của
vợ Tràng, hết sức ngạc nhiên trước nồi cháo cám nhưng người con dâu mới vẫn
điềm nhiên và vào miệng để làm vui lòng mẹ chồng. Điều đó cũng cho thấy v ợ
Tràng là người tế nhị, thị đã thực sự sẵn sàng cùng gia đình vượt qua những
tháng ngày khó khăn sắp tới.
+ Nồi cháo cám là nồi cháo của tình thân, tình người , niềm tin và hy vọng.
+ Chi tiết thể hiện tài năng của nhà văn Kim Lân trong vi ệc l ựa ch ọn chi ti ết
trong truyện ngắn.
Kết bài: Đánh giá, nhận xét một cách khái quát về chi tiết nồi cháo cám và ba
nhân vật.
Câu 3: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ
nhặt” của nhà văn Kim Lân để làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của người mẹ nông
dân nghèo khổ này.
Gợi ý trả lời:
*a/ Yêu cầu về kỹ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận văn học, phân tích tâm trạng nhân v ật trong tác
phẩm văn xuôi. Diễn đạt lưu loát, kết cấu bài chặt chẽ, không mắc lỗi chính tả,
lỗi dùng từ, ngữ pháp.
*b/ Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở nắm vững tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân và nghệ thuật xây d ựng
nhân vật trong thiên truyện, học sinh có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau
nhưng cần đạt được các ý cơ bản:
- Giới thiệu: tác giả, tác phẩm, nhân vật bà cụ Tứ
- Phân tích tâm trạng: Những biểu hiện tâm trạng của bà mẹ nghèo khi thấy con
trai mình “nhặt vợ” giữa nạn đói khủng khiếp 1945.

+ Ngạc nhiên, lo lắng, mà sự lo lắng thì nhiều hơn cả vì bà cụ Tứ đã trải đời, đã
biết thế nào là cái đói, cái nghèo.
+ Tủi thân, tủi phận, xót xa cho mình, cho con trai.
+ Vui với hạnh phúc bất ngờ của con, cảm thông, thương xót với người con dâu
mới trong cảnh tủi cực.
+ Lạc quan, tin tưởng vào tương lai. (yêu cầu dẫn chứng và phân tích d ẫn
chứng) =>Tâm trạng bà mẹ phức tạp, có lúc chứa đầy mâu thu ẫn…nh ưng t ất
cả đều thể hiện tình cảm chân thành, đôn hậu, giàu yêu th ương c ủa m ột bà m ẹ
nông dân nghèo khổ, nhân hậu.
+ Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tinh tế, sâu s ắc nhưng chân
thật.
Câu 4: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.
Gợi ý trả lời:
Giá trị nhân đạo cao cả:
Trên cơ sở của giá trị hiện thực sâu sắc mà có giá trị nhân đạo cao cả; trên b ờ
vực thẳm của cái chết, trong bóng tối của số phận bi th ảm lại lóe sáng tình
người cao đẹp và sức sống kì diệu của con người.
- Tình thương yêu giai cấp, sự cưu mang lẫn nhau của những ng ười nghèo khổ
được thể hiện rất cao đẹp và cảm động qua tấm lòng bà cụ Tư đối với con trai
và con dâu. Bà khóc vì thương con trai và con dâu, bà “m ừng lòng",bà hi v ọng
cũng vì thương chúng nó. Tình thương ấy dồn vào câu nói từ đáy lòng bà: Chúng
mày lấy nhau lúc này, u thương quá...”. Vượt lên tình thương con – nhất là v ới
người đàn bà lạ bỗng nhiên thành con dâu mới - đó là tình thương yêu giai c ấp
của những người nghèo khổ. Bà gọi thị là “con”, tôn trọng thị, nói chuy ện thân
mật với thì ngày đêm đầu gặp mặt. Và sáng hôm sau, bà cố tạo ra ni ềm vui cho
con trai và con dâu vui. Chi tiết nồi cháo cám thật cảm động trong bữa cơm ngày
đói đón dâu mơi. Không chỉ là tấm lòng người mẹ th ương con mà trong tình
thương ấy còn có cả đức vị tha cao cả. Suốt cả cuộc đời ngheo kh ổ, nh ưng bà
không hề nghĩ đến minh. Đó là vẻ đẹp tâm hồn của những người lao động đằng sau manh áo rách là một tấm lòng vàng.
- Niềm khao khát tổ ấm gia đình được thể hiện chân thực và có chiều sâu qua
tâm trạng nhân vật Tràng. Kim Lân nói rất đúng :" những người đói, h ọ không
nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống". Nhưng đây không ch ỉ là cái s ống v ật
chất để tồn tại, mà còn là cuộc sống tinh thần, tình cảm - tổ ấm gia đinh. Sức
sống con người thật kì diệu : từ trên bờ vực thẳm của cái ch ết, h ọ đã dám khát
khao đến tổ ấm gia đình, đến một cuộc sống đích thực và cao đ ẹp c ủa con
người. Nhân đạo biết bao và cũng nhân văn biết mấy ! Đây là n ội dung đ ộc đáo

và cảm động nhất của tác phẩm. Cho nên, tuy "chợn" nghĩ " thóc g ạo đ ến cái
thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đeo bòng", nhưng Tràng v ẫn
" Chậc ! Kệ!" và dẫn vợ về nhà. Anh vừa xấu hổ lại vừa tự hào khi đưa vợ qua
xóm ngụ cư, bởi vì có " một cái gì mới mẻ, lạ lắm, ch ưa t ừng th ấy" dâng lên
"ôm ấp, mơn man khắp da thịt..."; và nhất là, trong buổi sáng đầu tiên khi có vợ,
Tràng thấy cuộc đời mình bỗng nhiên thay đổi hẳn: " Hắn thấy thương yêu gắn
bó với cái của hắn lạ lùng", "một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn
ngập trong lòng","bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có b ổn
phận phải lo lắng cho vơ con sau này". Bởi vì Tràng đã có một gia đình, và trong
cái buổi sáng đầu tiên ấy, anh đã được tắm mình trong ánh sáng h ạnh phúc c ủa
tổ ấm gia đình. Đây là đoạn văn tràn đầy cảm hứng nhân đ ạo v ới nh ững ph ất
hiện sâu sắc và tinh tế về tâm trạng nhận vật của Kim Lân,
Câu 5: Phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân
Gợi ý trả lời:
Giá trị hiện thực sâu sắc
Kim Lân là một nhà văn của nông thôn, rất hiểu người nông dân, lại là ng ười
trong cuộc của cái nạn đói khủng khiếp này, nên ông đã dựng lên trong V ợ nhặt
một bức tranh cô đúc mà đầy đủ, khái quát mà cụ thể, khắc sâu thành ấn t ượng
rõ nét:
- Bức tranh toàn cảnh về nạn đói khủng khiếp năm 1945 với cảnh người đói
bồng bế, dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma, và năm ng ổn ngang kh ắp
lều chợ”, “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma và
sau đó là '“người chết như ngả rạ”, “thây nằm còng queo bên đường”, không khí
vẩn lên mùi gây cùa xác người”, rồi “mùi đốt đống rấm ở nh ững nhà có ng ười
chết theo gió thoảng vào khét lẹt” và “tiếng hờ khóc tỉ tê trong đêm khuya" Cái
đói đã tràn đến xóm ngụ cư, ùa vào gia đình anh Tràng, búa vây và đe d ọa s ố
phận từng con người, không trừ một ai.
- Bức tranh về số phận những con người trên bờ vực thẳm của nạn đói: Ở xóm
ngụ cư là '‘những khuôn mặt hốc hác u tối” trong “cuộc sống đói khát”, “không
nhà nào có ánh đèn, lửa”, đến cả trẻ con cũng “ngồi ủ rũ d ưới những xó đ ất ;
không buồn nhúc nhích”. Trong gia đình Tràng thì bà cụ Tứ già lão không làm
được gì, anh con trai đẩy xe bò thuê để kiếm sống qua ngày, người con dâu áo
quần rách như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi, hai con mắt trùng hoáy, cái ng ực g ầy lép
nhô hẳn lên”... Số phận của họ có khác gì “cái nhà vắng teo đ ứng rúm ró trên
mảnh vườn mọc lổm nhổm những búi cỏ dại” và bữa cơm ngày đói với nồi
cháo cám “đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”...
- Có một hiện thực tuy chưa rõ nét nhưng đã hiện ra ở cu ối truy ện trong ý nghĩ
của Tràng: “cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng
trước có lá cờ đỏ to lắm”. Đoàn người khi phá kho thóc Nhật và lá c ờ c ủa Vi ệt

Minh. Đây là hiện thực nhưng cũng là ước mơ của những người như Tràng.
- Nan đói khùng khiếp, số phận bi thảm của những người đói và lá c ờ cách
mạng là những mặt chủ yếu nhất của hiện thực lúc bấy giờ được Kim Lân
phản ánh bằng những nét bản chất đã làm nên giá trị hi ện th ực sâu s ắc c ủa tác
phẩm như chứng tích văn học về một sự kiện lịch sử không thể nào quên.
Câu 6: Phân tích giá trị nhân đạo của truyện Vợ nhặt của Kim Lân
Gợi ý trả lời:
Cho đến nay trong nền văn học hiện đại Việt Nam chưa có tác ph ẩm nào v ề
trận đói năm Ất Dậu - 1945 thật hay, thật xúc động nh ư truy ện ng ắn V ợ nh ặt
của Kim Lân. Cảm hứng nhân đạo dào dạt từ đầu truyện đến cuối truyện.
1. Truyện Vợ nhặt đã phản ánh nỗi đau khổ tột cùng của nhân dân ta, người
nghèo trong trận đói năm Ất Dậu. Đoàn người từ những vùng Nam Định, Thái
Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế dắt díu nhau lên “xanh xám nh ư nh ững bóng
ma” nằm ngổn ngang khắp các lều chợ. Quạ đen đậu trên những ng ọn cây bay
vù lên “như những đám mây đen” trên nền trời. Mùi gây c ủa người v ẫn lên
khắp xóm chợ. Người chết đói như ngả rạ. Sáng nào cũng bốn cái thây n ằm
còng queo bên đường!
Đói và chết đó đâu chi riêng ai! Mẹ con Tràng, cái nhà “vắng teo đ ứng rúm ró”
trên mảnh vườn đầy cỏ dại. Cửa nhà là một tấm phên rách. Niêu bát, xống áo
vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất. cơ ngơi ấy đã làm cho nàng dâu mới thất
vọng “nén một tiếng thở dài”. Bà cụ Tứ “mặt bủng beo u ám”. Anh cu Tràng
“bước mệt mỏi”, cái đầu “trọng nhẵn chúi về đằng trước’’ với bao lo 1 ắng,
chật vật. Đám trẻ con xóm chợ, trước đây tinh nghịch th ế, gi ờ đây chúng "ng ồi
ủ rũ dưới những xó đường không buồn nhúc nhích”. Trước nhà kho trên t ỉnh có
mấy chị con gái “ngồi vêu ra”. Đặc biệt nhân vật “th ị”, cái đói đã đi t ất c ả.
Không họ tên, tuổi tác, không gia đình, anh em. Không quê hương bản quán.
Hình hài tiều tụy, xơ xác đáng thương. Áo quần “tả tơi như tổ đỉa “gầy sọp hẳn
đi”, khuôn mặt lưỡi cày “xám xịt”, chỉ còn thấy hai con mắt. Con đ ường phía
trước của thị là vực thẳm, là chết đói. Cái đói đã cướp đi của thị tất cả. Ch ỉ
nghe Tràng nói “muốn ăn gì thì ăn”, thấy anh ta vỗ vỗ vào túi khoe “rích b ố cu”,
hai con mắt “trũng hoáy” của thị tức thì “sáng lên". Tình tiết thị cắm đầu ăn một
chặp bốn bát bánh đúc, trông có vẻ thô lỗ, nhưng không đáng chê, trái l ại r ất
đáng thương. Thị đang đói, thị đã nhịn đói nhiều ngày, thị cần được ăn, thị c ần
được sống. Kim Lân rất nhân hậu khi nói về thị, khi nói v ề s ự đói khát c ủa
người nghèo.
Cái xóm ngư cụ càng về chiều “càng xơ xác, heo hút”, nhà cửa “úp súp, t ối om”,
những khuôn mặt “hốc hác u tối”. Bữa cơm đón nàng dâu m ới của bà c ụ T ứ là
một nồi cháo cám. Người con gái giữa trận đói như một thứ vứt đi, có thể
“nhặt” được. Thị lấy chồng không một quả cau, không một lá trầu, chẳng có

quan tám tiền cheo, quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau”. V ề nhà ch ồng,
đứng trước mẹ chồng, nàng dâu mới “khép nép”, “cúi mặt xuống tay vân vê tà
áo đã rách bợt”. Tối tân hôn “tiếng khóc tỉ tê” của những gia đình có người m ới
chết đó vọng đến thê thiết não nùng. Sáng tinh mơ tiếng trống thúc thuế dội lên
từng hồi “dồn dập, vội vã”. Bằng những chi tiết rất hiện thực, r ất đi ển hình,
Kim Lân đã thể hiện tình cảm xót thương, lo âu cho số phận của người nghèo
khổ trước hoạn nạn, trước nạn đói đang hoành hành. Đáng quý hơn nữa, ông đã
đứng về phía nhân dân, về phía người nghèo vạch trần và tố cáo t ội ác c ủa
Nhật - Pháp, bắt trồng đay, bắt đóng thuế, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, gây
ra trận đói năm Ất Dậu làm hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
2. Truyện Vợ nhặt đã biểu lộ một tấm lòng trân trọng đối với h ạnh phúc c ủa
con người. Cách kể của Kim Lân rất hóm hỉnh về tình huống anh cu Tràng nhặt
được vợ và những tình tiết xoay quanh nàng dâu mới. Chỉ một vài câu “tầm phơ
tầm phào”, Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc thế mà hắn nhặt được vợ! Nhặt được
vợ nhưng hắn cùng phải liều: “Chặc, kệ!”. Hắn nghĩ thóc gạo này nuôi thân còn
khó, lại còn “đèo bòng". Trên đường dẫn vợ mới nhặt được về nhà xin phép mẹ
Già, anh cu Tràng vui như mở cờ trong bụng. Kim Lân tả đôi m ắt và n ụ c ười
của anh con trai cục mịch này đế làm nổi bật niềm hạnh phúc m ới nh ặt đ ược
vợ. Tràng “phởn phơ khác thường". Hắn “tủm tỉm cười nụ”. Hai mắt “sáng lên
lấp lánh”, có lúc cái mặt hắn “cứ vênh lên tự đắc với mình”.
Hình ảnh Tràng và thị đi bên nhau trông “hay đáo để”. Tràng khoe hai hào dầu,
rồi cười hì hì, bị thị “phát đánh đét” vào lưng với câu mắng yêu: “Kh ỉ gió",
nghểnh cổ thổi tắt phụt ngọn đèn con, bị thị mắng: “Chỉ được cái thế là nhanh.
Dơ!”. Những tình tiết ấy rất hay nói lên tình yêu mạnh hơn cái chết.
Cảnh mẹ chồng gặp nàng dâu mới thật vô cùng cảm động. Vượt qua phong tục
tập quán ăn hỏi cưới xin, chẳng có dăm ba mâm, bà cụ Tứ th ương ng ười đà bà
xa lạ, thương con và thương mình, bà nhận nàng dâu mới: “Ừ thôi thì các con đã
phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng". Tình th ương của bà mênh
mông, bà nghĩ “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, mới lấy đến con
mình, mà con mình mới có vợ được...”. Bà dịu dàng yêu thương gọi nàng dâu
mới là “con”. Lòng đầy thương xót, bà nói với hai con: năm nay thì đói to đấy.
Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá. Qua đó ta càng hi ểu sâu h ơn cái l ẽ
đời. Nhân dân lao động nghèo khổ đứng trước tai họa, họ đã dựa vào nhau, san
sẻ tình thương, san sẻ vật chất cho nhau để vượt qua mọi th ử thách, h ướng t ới
ngày mai với niềm tin và hi vọng: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời...”. Ng ười đ ọc
cảm thấv ngọn đèn “vàng đục” chiếu sáng trong mái lều đêm tân hôn c ủa v ợ
chồng Tràng là ngọn đèn hi vọng và hanh phúc ấm no.
Bữa cháo cám đón nàng dâu mới là một chi tiết mang giá tr ị nhân đ ạo tiêu bi ểu
nhất trong truyện Vợ nhặt. Bà cụ Tứ gọi là “chè khoán... ngon đáo đ ể”. Bà t ự
hào nói với hai con là “xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đ ấy". Trong b ữa
cháo cám, bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung s ướng về sau này. Cái gia đinh

mẹ con vô cùng “đầm ấm hòa hợp” hạnh phúc. Sau này, vợ chồng cái Tràng có
thể có những bữa cơm nhiều thịt cá ngon lành hơn, nhưng không bao giờ có thể
quên được bữa cháo cám buổi sáng hôm ấy. Vị cháo “đắng chát” mà l ại ng ọt
ngào chứa đựng bao tình thương của mẹ. Kim Lân sống gần gũi người nhà quê,
ông hiểu sâu sắc tâm lí, tình cảm của họ. Ông đã làm cho những thế hệ mai hậu
biết cái đắng chát trong cuộc đời cùa ông cảm nhận được cái hương đời, cái
tình thương của lòng mẹ., mà không một cao lương mĩ vị nào có thể sánh được?
Kim Lân đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất, nồng hậu nhất về s ự đ ời cùa
người dân cày Việt Nam. Mừng cho anh cu Tràng có vợ, b ọn tr ẻ tinh ngh ịch reo
lên: “chông vợ hài”. Việc Tràng có vợ, dân ngụ cư xóm cảm thấy “có một cái gì
lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm t ối c ủa h ọ”. Bà c ụ T ứ vui
sướng vì con trai đã có vợ, bà như trẻ lại, nhẹ nhõm tươi tỉnh “rạng rỡ hẳn lên”.
Vợ Tràng trở thành người đàn bà “hiền hậu đúng mực”. Tràng như t ừ m ột gi ấc
mộng bước ra. Anh ngủ dậy cảm thấy lửng lơ". Hạnh phúc đến quá bất ng ờ.
Việc hắn có vợ sau một ngày một đêm mà hắn “vẫn ngỡ ngàng nh ư không
phải”.
Sự đổi đời còn được thể hiện ở cảnh vật. Mẹ và vợ Tràng đã dậy sớm, quét
tước thu dọn lại nhà cửa, sân ngõ. Tiếng chổi quét sàn sạt. Hai cái ang được kín
nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã đ ược sạch. M ẹ
chồng, nàng dâu mới, con trai, ai cũng muôn góp phần sửa sang tổ ấm gia đình
hạnh phúc. Họ không nghĩ đến cái chết mà hướng về sự sống v ề h ạnh phúc và
sự đổi đời. Tràng cảm thấy hắn đã “nên người”, hắn th ấy hắn có b ổn ph ận
phải lo lắng cho vợ con sau này!
Một chi tiết, rất hay là vợ Tràng sau khi nghe ti ếng trống thúc thu ế đã báo tin ở
mạn Thái Nguyên, Bắc Giang, người ta không nộp thuế, người ta phá kho thóc
của Nhật chia cho người đói. Còn anh cu Tràng thấy trong óc mình “lá cờ đỏ bay
phấp phới”. Cách mạng sắp đến. Nạn đói sẽ bị đẩy lùi. Hình ảnh lá cờ đỏ
truyện Vợ nhặt không chỉ tô đậm giá trị nhân đạo mà còn tạo nên âm hưởng lạc
quan đầy chấn động, như một dự cảm về ngày mai ấm no, hạnh phúc.
Hạnh phúc của Tràng và niềm vui của mẹ già tuy muộn màng nhưng quý và
đáng trân trọng biết bao! Cổ kim đông tây đã có ai nhặt được vợ? Cái đói do bọn
Nhật Pháp gây ra đã cướp đi tất cả, tính mạng và phẩm giá con ng ười. M ột s ự
thật được khẳng định: niềm khao khát tình yêu và hạnh phúc khao khát sống
mạnh hơn cái chết. Quả thực cái vị đời ngọt ngào và người ấm áp đã t ỏa sáng
giá trị nhân đạo truyện Vợ nhặt.
Câu 7: Một trong những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của Kim Lân trong truyện
ngắn Vợ nhặt là đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo và hấp d ẫn.
Hãy phân tích để chứng minh cho ý kiến trên.
Gợi ý trả lời:

I. Mở bài
Đối với nghệ thuật truyện ngắn, tạo ra được một tình huống độc đáo mới lạ
làm bật nổi vấn đề, bật nổi tâm trạng, tư tưởng, tính cách c ủa các nhân v ật và
chủ đề của tác phẩm là một điều có ý nghĩa then chốt. Một truyện ngắn đ ặc
sắc là nhờ được tổ chức chung quanh một tình huống như thế, và V ợ nhặt của
Kim Lân là một trường hợp tiêu biểu.
II. Thân bài
Vợ nhặt đã tạo ra được một tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn:
1. Đó là tình huống nhân vật Tràng, một anh nhà nghèo x ấu xí, dân ng ụ c ư (b ị
người làng coi thường), giữa lúc đói khát lại lấy được vợ.
- Đó là một điều lạ, vì hai lí do:
+ Người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí có vợ theo!
+ Thời buổi đói khát này, người như Tràng, nuôi thân chẳng xong mà đi lấy vợ.
Nhưng điều tưởng không thế nào có được, lại đã xảy ra, đã tr ở thành hi th ực.
Bởi vì, nếu không phải năm đói, người ta không đói quá, thì ai thèm Tràng. Và
đây là “vợ nhặt”, có cheo cưới gì đâu. Năm đói thế nào cũng xong, th ế ng ười
như Tràng mới lấy được vợ.
- Tình huống này dẫn đến sự ngạc nhiên của cả xóm cư ngụ, của bà cụ Tứ (mẹ
Tràng) và của chính Tràng nữa. Như vậy, tình huống này đã làm cho câu chuy ện
có thể triển khai, phát triển dễ dàng bằng các cảnh với các chi tiết rất hấp dẫn.
+ Cảnh xóm ngụ cư xì xào bàn tán khi Tràng dẫn vợ về nhà.
+ Cảnh buổi tối bà cụ Tứ gặp người con dâu được anh con trai “nhặt về” trong
sự sững sờ này đến sự ngạc nhiên khác...
+ Chuyện có vợ bất ngờ với cả chính Tràng nữa, khiến anh ta không thế nào tin
nổi - Trong buổi tối dẫn vợ về báo cho mẹ biết và ngay cả sáng hôm sau khi đã
là vợ chồng (“Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn cứ ng ờ ng ợ
như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”).
2.Tình huống trên, đồng thời hết sức éo le. Đó là chuy ện nên vui hay nên bu ồn,
nên mừng hay nên lo?
- Chính điều này lại thúc đẩy cho câu chuyện tiếp tục phát tri ển đ ể nhà văn có
thể khắc họa tâm trạng nhân vật phong phú và tính cách nhân vật rõ nét h ơn.
Trong cái tình huống hết sức éo le ấy, ta thấy một sự xáo trộn bu ồn t ủi, vui
mừng, lo sợ ở trong tâm trạng của mọi người.
- Người trong xóm ngụ cư mừng cho anh ta và cùng lo cho anh ta.
+ Bà cụ Tứ mừng cho con nhưng vừa thương vừa tủi, vừa lo co con.

+ Chính Tràng cũng vừa vui vừa “chợn”', “thóc gạo này đ ến cái thân mình cũng
chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”.
- Tình huống trên dẫn đến cái hạnh phúc thật mong manh, tội nghiệp của đôi vợ
chồng và bà mẹ nghèo khổ. Hạnh phúc của đôi vợ chồng Tràng và niềm vui của
bà cụ Tứ cứ phải diễn ra trong một không khí ảm đạm chết chóc, vớinhững
tiếng hờ khóc người chết đói vẳng đưa tới (“Giữa sự im lặng của đôi vợ chồng
mới, có tiếng ai hờ khóc ngoài xóm lọt vào tỉ lệ lúc to lúc nhỏ”). Hạnh phúc của
họ diễn ra trong tiếng quạ kêu thê thiết, trong tiếng khóc thê thảm ấy. Và tiếp
đó là bữa ăn đầu tiên đón nàng dâu mới thật t ội nghi ệp: ăn cháo cám, ăn mà
không dám nhìn nhau... Tình huống đó đã tạo cảm hứng, tạo cảnh, t ạo chi ti ết
để nhà văn có thể viết nên những trang thật cảm động về câu chuy ện “V ợ
nhặt" rất hiện thực và cũng rất nhân đạo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945.
III.Kết bài
- Tình huống Vợ nhặt độc đáo và hấp dẫn là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc
của nhà văn Kim Lân.
- Tình huống ấy không chỉ tạo điều kiện cho câu chuyện triển khai và phát triển
dễ dàng, tốt đẹp, mà còn góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề truyện: niềm khát
khao tổ ấm gia đình và tình thương giữa những con người nghèo khổ ngay trong
trận đói khủng khiếp nhất.
Câu 8: Phân tích nghệ thuật dựng truyện trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân
Gợi ý trả lời:
Nghệ thuật dựng truyện
- Tạo tình huống độc đáo: “nhặt” được vợ.
- Dựng không khí chân thực: cái đói, cái chết bao trùm làng quê. Đó là không khí
của một thời điểm không thể nào quên.
- Từ ngữ chắt lọc: rất hợp với lời nói cửa miệng, hàng ngày c ủa ng ười dân
nghèo trước đây. (Qua đối thoại rất bình dân. Chú ý Tràng và v ợ trên đ ường v ề
hai người hầu hết nói câu cụt lủn, và không chủ ngữ).
- Cách nói láy mang lối bông phèng bình dân của Tràng: “Vợ mới vợ miếc”, “lên
giường lên giếc”, “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”...
Tóm lại, Vợ nhặt là truyện ngắn đặc sắc nhất của Kim Lân.
Câu 9: Phân tích hình ảnh gia đình có người vợ nhặt trong truyện “Vợ nhặt”
của Kim Lân
Gợi ý trả lời:
phamthothaiduong1509@gmail.com
2020-09-24 14:12:38