Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Ngôn ngữ Thơ Mới gợi sự liên tưởng tự do, bất định

Gửi bởi: Nguyễn Thị Vân vào ngày 2019-11-12 03:38:26 || Kiểu file: DOCX Lượt xem: 413 | Lượt Download: 0 | File size: 0.023006 Mb

Nội dung tài liệu Xem trước tài liệu

Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Thông tin tài liệu

Ngôn ngữ Thơ Mới gợi sự liên tưởng tự do, bất định
Nghệ thuật hiện đại, trong đó có thơ, là nghệ thuật mang tính “phát minh”. Th ực t ế văn h ọc
thế kỉ XX cũng chứng minh một điều rằng: thẩm mĩ dựa trên nguyên tắc mô phỏng đ ược xác
lập từ cổ đại với Aristote, để từ đó đưa lại một ảo giác về tính có thật của cái được miêu tả
đã trở nên không đủ sức khái quát thực tế vô cùng phong phú và sinh động của văn học trong
thời đại chủ nghĩa duy lí và tư duy phân tích đầy tính thực chứng đã trở nên bất tín nhiệm.
Thế giới trong cách cảm nhận của người hiện đại không chỉ là thế gi ới được nhìn th ấy mà
còn là thế giới được nhận ra, một thế giới của những chiều sâu th ẳm, đầy bí ẩn. Quy ền năng
của thơ, vì vậy, không thể chỉ là sự miêu tả, kể lể hời hợt, mà quan trọng hơn là s ự khải th ị
về một thế giới chưa từng biết, thế giới của tinh thần, huyền diệu và linh động. Diễn đạt thế
giới ấy là bất khả đối với thứ ngôn từ của trí năng và là cơ hội cho ngôn từ của s ự liên t ưởng
đầy
tính
trực
giác,
thần
cảm
của
nhà
thơ.
Nhìn lại con đường tiến hóa của thơ mới, một thực tế rõ ràng rằng thơ càng ngày càng có xu
hướng xa rời dần lối thơ thiên về kể tả sự vật khách quan theo nguyên tắc “đ ối cảnh sinh
tình” phổ biến của thơ ca truyền thống, mà thiên về lối thơ diễn đạt những tương quan vô
hình, bên trong, mang tính tinh thần của bản thân sự vật, gắn v ới c ảm quan v ề m ột th ế gi ới
thống nhất (cụ thể và trừu tượng, hữu hình và vô hình, thể chất và tâm linh…)…. Và cũng vì
vậy, không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà thơ mới như Xuân Diệu, Huy C ận, Hàn M ặc T ử,
Bích Khê, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú T ứ,
Phạm Văn Hạnh lại say mê tư duy tương hợp và tinh thần nhất thể giác quan (unité de sens),
những giá trị thơ mới lạ và độc đáo mà những nhà thơ tiền bối của ch ủ nghĩa hi ện đ ại nh ư
Baudelaire, Mallarmé, Rimbaud, Verlaine… đã tạo ra.
Về thực tế này, ta có thể dẫn ra vô số ví dụ, như:
- Hãy lắng nghe nhạc tơ mềm dãy dụa
Trong nhạc trăng vang nổi khắp cung mây (Chế Lan Viên - Vo lụa)
- Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc
Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương (Bích Khê - Nàng bước tới)
-Một đêm vàng – một đêm vàng âm điệu
Đầy nhựa thơm xanh mịt ngàn phi lau (Bích Khê - Sọ người)
- Đêm đêm ảo ảnh thơm chăn gối
Tình hướng về đông, dạ lắng chờ (Vũ Hoàng Chương - Tình liêu trai)
1

- Cốc rượu hồng, hy vọng sáng rung rinh
Mùi son phấn khác gì hương trinh bạch? (Đinh Hùng - Hương trinh bạch)
- Hồn nào lang thang bên đêm êm
Hồn hoa chơi vơi - bình trăng mềm (Nguyễn Xuân Sanh - Xây mơ)
- Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát (Đoàn Phú Tứ - Màu thời gian)
- Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Hãy tự buông cho khúc nhạc hường (Xuân Diệu - Huyền diệu)
-Anh đã đón tình em bay phất phới
Như hương trăng đằm thắm cõi không gian (Hàn Mặc Tử - Sáng láng)
Đó là những cách diễn đạt vô cùng độc đáo, lạ lẫm, mà có lẽ trước thời đại th ơ m ới khó ai có
thể hình dung ra. Tuy nhiên, cũng cần dứt khoát một điều rằng: sáng tạo ngôn t ừ (ở đây)
không phải là tạo ra những từ mới, mà cơ bản là làm mới ngôn từ, nhằm đ ưa l ại cho t ừ m ột
khả năng đặc biệt trong việc làm hé lộ thế giới tinh thần bên trong của bản thân sự vật. Trong
những ví dụ trên, rõ ràng năng lực liên tưởng đầy tính trực giác và thần cảm trở thành ngu ồn
năng lượng vô tận cho sáng tạo, ở đó sự vận dụng ngôn từ không còn theo qui luật miêu tả mà
theo qui luật của sự liên tưởng. Và như thế, chỉ xét riêng bình diện ngôn t ừ, th ơ m ới đã đ ặt ra
một vấn đề mới về vai trò của cái biểu đạt: sáng tạo không phải chỉ là một sự lựa chọn, sắp
xếp, mà bản thân ngôn từ đã là một sáng tạo, nó không chỉ đóng vai trò thừa hành s ự sai b ảo
của lí trí, mà chính nó đã là một thế giới có giá trị tự thân, nó không ch ỉ là ph ương ti ện c ủa
thơ

còn

chính
bản
thân
thơ.
Liên tưởng là đặc trưng của thơ nói riêng và nghệ thuật nói chung, nhưng ở đây có nét mới
cần lưu ý. Thông thường ta hay nói về hai dạng liên tưởng phổ biến: liên tưởng tương đồng
(hai vật thể có cùng hoặc gần về bản chất) và liên tưởng tiếp cận (từ vật thể này di chuyển
sự chú ý đến một hoặc nhiều vật thể khác trong một văn cảnh rộng lớn hơn). Đó là những
dạng liên tưởng thuộc phạm vi lí trí và tri thức thường nghiệm. Với thơ mới, trong nhiều
trường hợp (như những ví dụ thơ đã nêu), những dạng liên tưởng ấy có lẽ chưa đủ, vì thơ
càng ngày càng có xu hướng vươn đến diễn đạt tinh thần bên trong, cái bí ẩn, ch ưa bi ết, nó
cần những dạng liên tưởng khác tự do, linh động và bất định hơn. Theo đó, cũng b ắt đ ầu t ừ
một vật thể xuất phát, nhưng mạch liên tưởng không chỉ bó hẹp trong phạm vi cái tương
đồng hay tiếp cận, mà thường dẫn dắt trí tưởng tượng của nhà thơ đi đến những hình ảnh
hoặc ý tưởng hết sức xa lạ với ý nghĩa ban đầu, vượt ra khỏi thói quen kinh nghiệm và nh ận
thức thông thường. Những liên tưởng ấy phụ thuộc vào ý thức tìm kiếm giá trị tinh thần bên
2

trong và cũng phụ thuộc vào năng lực trực giác của nhà thơ. Nhờ liên tưởng t ự do và có tính
bất định ấy, người đọc được dẫn dắt trải nghiệm những trạng thái cảm giác khác nhau đầy
ngạc nhiên với những cảm nhận mới mẻ, thú vị, những điều mà thơ nghiêng về tư duy luận lí
không thể có được. Những liên tưởng bất định trong sáng tạo ngôn từ của các nhà thơ m ới
thực sự đã góp phần nới rộng tầm nhìn và nêu lên cách nhìn mới về thế giới với tất cả s ự
uyển chuyển, linh động cùng chiều sâu thăm thẳm của nó.

3