Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Nghị luận

Gửi bởi: Hoàng Thị Thu Hằng vào ngày 2020-04-15 09:12:33 || Kiểu file: DOCX Lượt xem: 293 | Lượt Download: 0 | File size: 0.024331 Mb

Nội dung tài liệu Tải xuống


Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Thông tin tài liệu

Kiến thức trọng tâm
I- TÌM HIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
KHÁT VỌNG HOÀ NHẬP, DÂNG HIẾN CHO ĐỜI
Mùa xuân là mùa của thiên nhiên thắm tươi, của vạn vật sinh sôi nảy nở. Văn
học ViệtNam từng có không ít vần thơ thể hiện cảm xúc rạo rực, trẻ trung
trước mùa xuân. Ngay từ khi ra đời, Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải đã
chiếm được cảm tình của đông đảo bạn đọc. Bài thơ toát lên một không khí
vừa rạo tực vừa trong sáng, êm dịu đến dễ thương, thể hiện tình yêu tha
thiết đối với thiên nhiên, đất nước và một nguyện ước cống hiến thật đáng
trân trọng.
Hình ảnh mùa xuân trong bài thơ của Thanh Hải mang nhiều tầng ý nghĩa. Từ
hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên, đất nước trong lao động và chiến đấu,
nhà thơ đi đến nguyện ước làm Một mùa xuân nho nhỏ - Lặng lẽ dâng cho
đời, cất lên khúc hát xao xuyến, tươi vui hoà trong bản tình ca, anh hùng ca
của cách mạng. Trong đó, mùa xuân nào cũng thật gợi cảm, cũng thật đáng
yêu.
Bức tranh xuân của thiên nhiên, đất nước được tạo nên từ chi tiết rất tiêu
biểu, được vẽ bằng cả màu sắc lẫn âm thanh. Đó là dòng sông xanh, bông
hoa tím biếc, là lộc giắt đầy quanh lưng người ra trận và trải dài trên những
cánh đồng (tượng trưng cho sự nảy nở, sinh sôi, cho sự dồi dào, thành đạt).
Đó là tiếng chim chiền chiện lảnh lót vang trời. Hình ảnh mùa xuân hiện lên
trong cảm xúc thiết tha, trìu mến của nhà thơ, trong lời kêu, giọng hỏi: ơi...,
hót chi mà,… Đặc biệt, tình cảm nâng niu vẻ đẹp của mùa xuân, khát vọng
thu nhận và giữ gìn vẻ đẹp ấy được thể hiện qua tư thế độc đáo: Tôi đưa tay
tôi hứng từng giọt âm thanh từ trời xanh rơi xuống. Tiếng chim chiền chiện
thả vào không gian trong suốt của mùa xuân được cảm nhận thành từng giọt
mang màu sắc long lanh. Cảm giác ấy, động tác ấy chỉ có được ở một tâm
hồn thi sĩ, ở một tấm lòng tha thiết yêu mến cuộc sống này. Từ hình ảnh mùa
xuân gần gũi, nhà thơ liên tưởng khái quát đến truyền thống bốn nghìn năm,
đến sức xuân cứ đi lên phía trước của đất nước. Khi đúc kết, khái quát như
thế, lời thơ dễ khô khan. Nhưng khổ thơ thứ ba cứ tự nhiên được cuốn đi
trong dòng cảm xúc dịu dàng, đằm thắm, do đó vẫn nằm trong mạch tâm
tình.
Từ rung cảm thiết tha trước mùa xuân đẹp của quê hương, đất nước, Thanh
Hải bộc lộ một nguyện ước chân thành :
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Đó chính là hình ảnh Một mùa xuân nho nhỏ - Lặng lẽ dâng cho đời thể hiện
khát vọng đựơc hoà nhập, được dâng hiến. Đến đây, ta bỗng thấm thía ý

nghĩa của nhan đề bài thơ. Trước Thanh Hải quả chưa từng có hình ảnh thơ
vừa lạ, vừa hồn nhiên, thân thương này. Hình ảnh mùa xuân nho nhỏ chứa
đựng sự khiêm nhường mà cũng tự tin, tự hào biết mấy của con người ý thức
sâu sắc về giá trị cuộc đời, về hạnh phúc của hiến dâng và đón nhận. Nốt
trầm xao xuyến của mùa xuân nho nhỏ này cứ tự nhiên hoà vào mùa xuân
lớn của thiên nhiên đất nước nhờ sự chiếu ứng giữa hai phần của bài thơ. Khổ
đầu đã xuất hiện hình ảnh bông hoa tím, con chim chiền chiện giữa trời xanh
với tiếng chim hót từng giọt long lanh. Giờ đây, đến khổ thứ tư, nguyện ước
của nhân vật trữ tình, của mùa xuân nho nhỏ chính là sự láy lại các hình ảnh
ấy của mùa xuân.
Như vậy, giữa các khổ, các phần của Mùa xuân nho nhỏ có sự gắn kết tự
nhiên, chặt chẽ, vừa luyến láy vừa được nâng cao. Bài thơ này lay động tâm
hồn chúng ta bởi chất hoạ gợi cảm, chất nhạc vấn vương, quyến luyến, bởi
nguyện ước tha thiết, chân thành. Cái nguyện ước lặng lẽ dâng cho
đời một mùa xuân nho nhỏ kia đâu còn của riêng Thanh Hải mà có lẽ đã trở
thành tiếng lòng của nhiều bạn đọc.
(Hà Vinh)
Trả lời:
a) Vấn đề nghị luận của văn bản là hình ảnh mùa xuân trong cảm xúc thiết
tha, chân thành của nhà thơ Thanh Hải ở bài "Mùa xuân nho nhỏ"
b) Những luận điểm về hình ảnh mùa xuân nho nhở là:




Hình ảnh mùa xuân trong bài thơ của Thanh Hải mang nhiều tầng ý
nghĩa, tất cả đều gợi cảm, đáng yêu.
Bức tranh mùa xuân, với cả màu sắc lẫn âm thanh, hiện lên trong cảm
xúc thiết tha, trìu mến, đằm thắm, dịu dàng.
Từ mùa xuân tươi đẹp của quê hương, đất nước, đến mùa xuân của
nguyện ước hoà nhập, dâng hiến chân thành.

Người viết thuyết phục các luận điểm bằng sự phân tích, bình giảng những
câu thơ, hình ảnh thơ đặc sắc, với nhận định về cảm hứng, giọng điệu, kết
cấu…
c) Bài viết có bố cục 3 phần cân đối, chặt chẽ:




Mở bài: từ đầu cho đến "…thật đáng trân trọng.".
Thân bài: từ "Hình ảnh mùa xuân…" cho đến "…các hình ảnh ấy của
mùa xuân".
Kết bài: đoạn còn lại.

d) Người viết đã cảm nhận bài thơ với một thái độ yêu mến, tin tưởng với tình
cảm chân thành đã thể hiện những rung động trước vẻ đẹp nội dung và nghệ
thuật bài thơ. Lời văn mạch lạc, gợi cảm.
II. Ghi nhớ:





Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của
mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy.
Nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ được thể hiện qua ngôn
từ, hình ảnh, giọng điệu,…
Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố ấy để có những nhận xét, đánh
giá cụ thể, xác đáng. Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ, bài thơ
cần có bố cục mạch lạc, rõ ràng; có lời văn gợi cảm, thể hiện rung động
chân thành của người viết

Kiến thức trọng tâm
I- ĐỀ BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ
Đề 1. Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ sau:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
(Thế Lữ, Nhớ rừng)
Đề 2. Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn kết trong bài thơ Đồng chí của
Chính Hữu:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Đề 3. Cảm nhận của em về tâm trạng của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm
thằng cuội.
Đề 4. Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không
kính của Phạm Tiến Duật.
Đề 5. Bài thơ ánh trăng của Nguyễn Duy gợi cho em những suy nghĩ gì?
Đề 6. Phân tích khổ thơ đầu trong bài Sang thu của Hữu Thỉnh.
Đề 7. Những đặc sắc trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương.
Đề 8. Cảm nhận và suy nghĩ của em về tình cảm cha con trong bài Nói với
con của Y Phương.
Câu hỏi:
a) Các đề bài trên được cấu tạo như thế nào?
b) Các từ trong bài như phân tích, cảm nhận và suy nghĩ ( hoặc có khi đề bài
không có lệnh) biểu thị những yêu yêu cầu gì đối với bài làm?
Trả lời:

a) Các đề bài trên có cấu tạo chia làm hai loại. Một loại đề có những từ ngữ
chỉ rõ cách thức tiến hành bài làm: phân tích, cảm nhận và suy nghĩ, cảm
nhận, gợi cho em những suy nghĩ gì, ... Một loại đề không đưa ra yêu cầu,
mệnh lệnh cụ thể (Đề 4, 7).
b) Khi đề bài yêu cầu phân tích, cảm nhận và suy nghĩ biểu thị những yêu
cầu định hướng cách làm bài.






Phân tích là muốn định hướng cụ thể về thao tác, khi đó phải phân
tách, xem xét đối tượng dưới nhiều góc độ, đối chiếu, so sánh… để từ
đó đi đến nhận định về đối tượng.
Cảm nhận và suy nghĩ là muốn nhấn mạnh đến việc đưa ra cảm thụ, ấn
tượng riêng (cảm nhận) và nhận định, đánh giá (suy nghĩ) về đối tượng;
đối với loại yêu cầu này, để thuyết phục, chứng minh được ý kiến của
mình, người làm cũng phải tiến hành giảng giải bằng các thao tác như
phân tích, giải thích…
Với đề bài không có lệnh cụ thể, người làm tự lựa chọn những thao tác
cần thiết để làm rõ, chứng minh cho ý kiến của mình về đối tượng được
nêu ra trong đề bài.

II- CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ
1. Cách bước làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
Đề bài “Phân tích tình yêu quê hương trong bài thơ Quê hương của
Tế Hanh”, ta có trình tự các bước như sau:
Bước 1. Tìm hiểu đề và tìm ý



Đề bài đưa ra vấn đề nghị luận nào? (tình yêu quê hương trong bài
thơ Quê hươngcủa Tế Hanh).
Đề bài có đưa ra yêu cầu (mệnh lệnh) cụ thể không, nếu có thì yêu cầu
ấy là gì? (Phân tích)

- Tìm ý:






Đọc kĩ lại bài thơ (nếu là đoạn thơ thì cũng phải đọc kĩ cả bài, đặt đoạn
thơ đó vào bài thơ để tìm hiểu).
Tìm hiểu khái quát về tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ (nếu có): Tế
Hanh sinh ra tại một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Ông xuất hiện
ở chặng cuối của phong trào Thơ mới với những bài thơ mang nặng nỗi
buồn và tình yêu quê hương thắm thiết.
Sắc thái cảm xúc xuyên suốt bài thơ là gì (?): tha thiết, ngọt ngào.
Tìm hiểu những nét đặc sắc nổi bật nhất về nội dung và nghệ thuật của
bài thơ: Bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển,
trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân
chài và sinh hoạt lao động làng chài được thể hiện bằng những vần thơ
bình dị, giàu sức gợi cảm.






Sau khi đã nắm được những nét chung nhất về bài thơ, em hãy xác
định những luận điểm chính gắn với vấn đề nghị luận mà đề bài đưa ra:
Trong cách xa, nhà thơ nhớ về quê hương như thế nào? Hình ảnh làng
quê hiện lên trong nỗi nhớ của nhà thơ có những đặc điểm và vẻ đẹp
gì?
Bài thơ có những hình ảnh, câu thơ nào gây ấn tượng sâu sắc đối với
em? Ngôn từ, giọng điệu của bài thơ có gì đặc sắc?

Bước 2. Lập dàn bài
Trình bày các luận điểm theo bố cục 3 phần:
Mở bài: Giới thiệu bài thơ, nêu khái quát nhận định của mình về vấn đề nghị
luận: Giới thiệu sơ lược về bài thơ Quê hương của Tế Hanh, nêu nhận định
của em về tình yêu quê hương trong bài thơ.
Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: Phân tích những biểu hiện cụ thể của
tình yêu quê hương trong bài thơ.






Nêu nhận xét chung về bài thơ: Bài thơ Quê hương thể hiện một tình
yêu quê hương tha thiết, trong sáng, đậm chất lí tưởng, lãng mạn.
Tình yêu quê hương biểu hiện cụ thể ở vẻ đẹp của cảnh ra khơi và cảnh
trở về:
Cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi: khoẻ khoắn, đầy sức sống
Cảnh đón thuyền cá về bến về: tấp nập, bình yên, no đủ
Tình yêu quê hương thể hiện ở nỗi nhớ: những hình ảnh của quê hương
in đậm trong kí ức của nhà thơ.

Kết bài: Chốt lại vấn đề nghị luận, mở rộng liên tưởng: Khẳng định vẻ đẹp,
tình yêu quê hương được gửi gắm trong bài thơ. Nêu lên ấn tượng mà vẻ đẹp
của bài thơ đã để lại trong tâm trí em.
Bước 3. Viết bài
Bước 4. Đọc lại bài viết và sửa chữa
2.Cách tổ chức, triển khai luận điểm
Đọc và trả lời câu hỏi:
QUÊ HƯƠNG TRONG TÌNH THƯƠNG, NỖI NHỚ
Quê hương trong xa cách là cả một dòng cảm xúc dạt dào, lấp lánh suốt đời
thơ Tế Hanh. Cái làng chài nghèo ở một vùng cù lao trên sông Trà Bồng nước
bao vây cách biển nửa ngày sông đã nuôi dưỡng tâm hồn Tế Hanh, đã trở
thành nỗi nhớ da diết để ông viết nên những vần thơ thiết tha, lai láng. Trong
dòng cảm xúc ấy, Quê hương là thành công khởi đầu rực rỡ.
Nhà thơ đã viết về Quê hương bằng tất cả tình yêu tha thiết, trong sáng, đầy
thơ mộng của mình. Nổi bật lên trong bài thơ là cảnh ra khơi đánh cá của trai
làng một sớm mai đẹp như mơ :
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
Tâm hồn nhà thơ náo nức những hình ảnh đầy sức mạnh :
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng máu chèo, mạnh mẽ vượt trường giang

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
Giữa trời nước bao la nổi bật hình ảnh con thuyền hiêng ngang, hăng hái, đầy
sinh lực dưới bàn tay điều khiển thành thạo của dân trai tráng đang nhẹ lướt
trên sóng qua hình ảnh so sánh như con tuấn mã. Bằng các từ ngữ sinh
động, nhà thơ đã khắc hoạ tư thế kiêu hãnh chinh phục sông dài, biển rộng
của người làng chài. Lời thơ như băng băng về phía trước, như rướn lên cao
bao la cùng với con thuyền, với cánh buồm ! Tế Hanh đã cảm nhận cuộc
sống lao động của làng quê bằng cả tâm hồn thiết tha gắn bó nên mới liên
tưởng : Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng. Bao nhiêu trìu mến thiêng
liêng, bao nhiêu hi vọng mưu sinh của người lao động được gửi gắm ở đấy.
Cảnh đón thuyền đánh cá trở về ồn ào, tấp nập cũng được miêu tả với một
tình yêu tha thiết :
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
“Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”,
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
ở đoạn trước, khi tả cảnh ra đi mạnh mẽ vượt trường giang của đoàn thuyền
hơi thơ băng băng, phơi phới. Đến đoạn này, âm điệu thơ thư thái và dần
lắng lại theo niềm vui no ấm, bình yên của dân làng. Chính từ đây, xuất hiện
những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của Quê hương :
Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Chỉ ai là người con của một vạn chài mới viết được những câu thơ như thế. Tế
Hanh như khắc tạc bức tượng đài người dân chài giữa đất trời lộng gió với
hình khối, màu sắc và cả hương vị không thể lẫn : bức tượng đài nồng thở vị
xa xăm - vị muối mặn mòi của biển khơi, của những chân trời tít tắp mà họ
thường chinh phục. Chất muốn mặn mòi ấy thấm vào thân hình người dân
chài quê hương, thấm dần trong thớ vỏ chiếc thuyền hay đã thấm sâu vào
làn da thớ thịt, vào tâm hồn Tế Hanh để thành niềm cảm xúc bâng khuâng,
kỳ diệu ?
Một tâm hồn như thế khi nhớ nhung tất chẳng thể nhàn nhạt, bình thường.
Nỗi nhớ quê hương trong đoạn kết đã đọng thành những kỷ niệm ám ảnh,
vẫy gọi. Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá - Câu thơ cuối cùng cho ta rõ
thêm tâm hồn thiết tha, thành thực của Tế Hanh.
Quê hương của Tế Hanh đã cất lên một tiếng ca trong trẻo, nồng nàn, thơ
mộng về cái làng vạn chài từng ôm ấp, ru vỗ tuổi thơ mình. Bài thơ đã góp
phần bồi đắp cho mỗi người đọc chúng ta tình yêu quê hương thắm thiết.
(Bài làm của học sinh)
Câu hỏi:
a) Trong văn bản trên đâu là phần thân bài? Ở phần ngày người viết đã trình
bày những nhận xét về tình yêu quê hương trong bài thơ Quê hương? Những
suy nghĩ ý kiến ấy được dẫn dắt khẳng định bằng cách nào, được liên kết với
phần mở bài và thân bài ra sao?

b) Văn bản có sức thuyết phục và hấp dẫn không? Vì sao? Từ đó có thể rút ra
bài học gì về cách làm bài nghị luận văn học này?
Trả lời:
a)




Thân bài (từ "Nhà thơ đã viết về…" cho đến "…thành thực của Tế
Hanh."): Trình bày những cảm nhận, phân tích về tình yêu quê hương
tha thiết, trong sáng, thơ mộng của nhà thơ qua bức tranh dân chài ra
khơi và cảnh trở về bến cùng những hình ảnh đặc sắc thể hiện nỗi nhớ,
tình thương của tác giả.
Những suy nghĩ ý kiến ấy được dẫn dắt khẳng định bằng cách nào,
được liên kết với phần mở bài và thân bài được phân tích, bingh giảng
cụ thể gắn liền với hình ảnh, ngôn từ giọng điệu của bài thơ. Phần thân
bài kết nối với phần thân bài một cách chặt chẽ, đó chính là sự phân
tích, chứng minh làm sáng tỏ nhận định, nhận xét bao quát ở mở bài.
Từ đó dẫn đến kết bài nhằm đánh giá sức hấp dẫn, ý nghĩa của bài
viết.

b) Văn bản có sức thuyết phục và hấp dẫn. Bởi vì:




Bố cục mạch lạc, sáng rõ.
Luận điểm được triển khai rõ ràng, từng luận điểm được chứng minh
bằng những biểu hiện cụ thể trong bài thơ.
Bài văn ngắn gọn, lời lẽ súc tích, thể hiện được rung động, đồng cảm
của người viết trước vẻ đẹp và cảm xúc của bài thơ.

Rút ra bài học: Bài nghị luận về một đoạn thơ bài thơ cần nêu lên được các
nhận xét đánh giá và sự cảm thụ riêng của người viết. Những nhận xét, đánh
giá ấy phải được gắn với sự phân tích, bình giá ngôn ngữ hình ảnh giọng điệu
nội dung cảm xúc của tác phẩm.
2020-09-26 05:37:20