Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Giải bài tập SGK Địa lý lớp 12 Bài 9: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa

05a5ad90671bdfc03933376d2518a78c
Gửi bởi: ngọc nguyễn vào ngày 2018-04-15 22:27:12 || Kiểu file: PDF Lượt xem: 240 | Lượt Download: 0 | File size: 0 Mb

Nội dung tài liệu Xem trước tài liệu

Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Thông tin tài liệu

Đặc điểm chung của tự nhiên
Bài 9: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa
Bài 1 (trang 44 sgk Địa Lí 12): Tính chất nhiệt đới của nước ta được biểu hiện như
thế nào?
Lời giải:
- Tổng bức xạ lớn, cân bằng bức xạ dương quanh năm.
- Tổng nhiệt độ và nhiệt độ trung bình năm đều cao. Nhiệt độ trung bình năm từ 22 đến
27oC, tổng số giờ nắng dao động từ 1.400 đến 3.000 giờ/năm.
Bài 2 (trang 44 sgk Địa Lí 12): Dựa vào bảng số liệu sau, hãy nhận xét sự thay đổi
nhiệt độ từ Bắc vào Nam. Giải thích nguyên nhân.
Nhiệt độ trung bình tại một số địa điểm
Địa điểm

Nhiệt độ trung bình

Nhiệt độ trung bình

Nhiệt độ trung

tháng I (oC)

tháng VII (oC)

bình năm (oC)

Lạng Sơn

13,3

27,0

21,2

Hà Nội

16,4

28,9

23,5

Huế

19,7

29,4

25,1

Đà Nẵng

21,3

29,1

25,7

Quy Nhơn

23,0

29,7

26,8

TP. Hồ Chí

25,8

27,1

27,1

Minh
Hãy nhận xét về sự thay đổi nhiệt độ từ Bắc vào Nam. Giải thích nguyên nhân.
Lời giải:
a) Nhận xét
- Nhiệt độ trung bình năm và tháng 1 đều tăng từ Bắc vào Nam.
Nhiệt độ trung bình tháng 1 tăng rất nhanh từ Bắc vào Nam, nghĩa là nhiệt độ phía Bắc
thấp hơn nhiều so với phía Nam.
- Nhiệt độ trung bình tháng 7 nhìn chung ít thay đổi khi từ Bắc vào Nam.
b) Nguyên nhân

- Do vĩ độ địa lí, càng vào Nam càng gần xích đạo, nhận được lượng bức xạ lớn hơn.
- Do tác động của gió mùa Đông Bắc, nên nhiệt độ vào tháng 1 ở phía Bắc hạ rất thấp so
với phía Nam. Như vậy, gió mùa Đông Bắc là nguyên nhân chủ yếu gây nên sự tăng
nhiệt độ từ Bắc vào Nam.
Bài 3 (trang 44 sgk Địa Lí 12): Dựa vào bảng số liệu sau
Lượng mưa, lượng bốc hơi và cân bằng ẩm của một số địa điểm
Địa điểm

Lượng mưa (mm) Lượng bốc hơi (mm) Cân bằng ẩm (m)

Hà Nội

1667

989

+ 678

Huế

2868

1000

+ 1868

TP. Hồ Chí Minh

1931

1686

+ 245

Hãy so sánh, nhận xét về lượng mưa, lượng bốc hơi và cân bằng ẩm của ba địa điểm trên.
Giải thích.
Lời giải:
So sánh, nhận xét và giải thích:
- Huế có lượng mưa cao nhất do bức chắn dãy Bạch Mã đối với các luồng gió thổi hướng
đông bắc, bão từ Biển Đông vào và hoạt động của hội tụ nội chí tuyến. Cũng vì vậy, Huế
có mùa mưa vào thu đông (từ tháng 8-1). Vào thời kì mưa nhiều này lượng bốc hơi nhỏ,
nên cân bằng ẩm ở Huế rất cao.
- TP. Hồ Chí Minh có lượng mưa cao hơn Hà Nội do trực tiếp đón nhận gió mùa tây nam
mang mưa, hoạt động của hội tụ nội chí tuyến mạnh hơn, nhung nhiệt độ cao nên bốc hơi
nước mạnh hơn, vì thế có cân bằng ẩm tương đương Hà Nội.
Bài 4 (trang 44 sgk Địa Lí 12): Hãy trình bày hoạt động của gió mùa ở nước ta và hệ
quả của nó đối với sự phân chia mùa khác nhau giữa các khu vực.
Lời giải:
Việt Nam có hai mùa gió chính: gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ.
- Gió mùa mùa đông
+ Từ tháng 11 - 4 miền Bắc chịu tác động của khối khí lạnh phương Bắc thổi theo hướng
đông bắc, thường gọi là gió mùa Đông Bắc. Vào các tháng 11, 12, 1 khối khí lạnh di
chuyển qua lục địa châu Á mang lại cho miển Bắc nước ta thời tiết lạnh khô. Đến các

tháng 2, 3, khối khí lạnh di chuyển về phía đông, qua biển vàc nước ta gây nên thời tiết
lạnh ẩm, mưa phùn.
+ Gió mùa Đông Bắc thổi theo từng đợt, chỉ hoạt động mạnh ở miền Bắc, hình thành
một mùa đông có 2 - 3 tháng lạnh (nhiệt độ xuống dưới 18oC). Gió mùa Đông Bắc hoạt
động mạnh có thể xuống tới 12oB. Khi di chuyển xuống phía nam, khối khí này bị biến
tính và suy yếu dần nên dường như kết thúc bởi bức chắn dãy Bạch Mã.
+ Trong thời gian này, từ Đà Nẵng trở vào, tín phong nửa cầu Bắc cũng thổi theo hướng
đông bắc, hình thành một mùa khô, nắng nóng.
- Gió mùa mùa hạ: có hai luồng gió cùng hướng tây nam thổi vào nước ta.
+ Vào các tháng 5, 6, 7: khối khí nhiệt đới từ Ấn Độ Dương di chuyển theo hướng tây
nam xâm nhập trực tiếp và gây mưa lớn cho đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên. Vượt
dãy Trường Sơn, khối khí trở nên nóng khô (gió Tây, còn gọi là gió Lào) tràn xuống
vùng đồng bằng ven biển Trung Bộ và phần nam của khu vực Tây Bắc. Đôi khí do lực
hút của áp thấp Bắc Bộ làm xuất hiện gió Tây khô nóng tại đồng bằng Bắc Bộ, khiến cho
nhiệt độ lên tới 35 - 40oc và độ âm xuống dưới 50%.
+ Từ tháng 6 đến tháng 9: gió mùa Tây Nam (xuất phát từ áp cao cận chí tuyến nửa cầu
Nam) hoạt động. Vượt qua biển vùng xích đạo, khối khí này trở nên nóng ẩm thường gây
mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió ở Nam Bộ và Tây Nguyên. Hoạt động của gió
mùa Tây Nam cùng với dải hội tụ nhiệt đới là nguyên nhân chủ yếu gây mưa vào mùa hạ
cho cả hai miền Nam, Bắc và mưa vào tháng?) cho Trung Bộ. Do áp thấp Bắc Bộ, khối
khí này di chuyển theo hướng đông nam vào Bắc Bộ, tạo nên "gió mùa Đông Nam" vào
mùa hạ ở miền Bắc.
- Sự luân phiên các khối khí hoạt động theo mùa khác nhau cả về hướng và về tính chất
đã tạo nên sự phân mùa khí hậu.
+ Ở miền Bắc: có mùa đông lạnh khô, ít mưa và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều.
+ Ở miền Nam: có hai mùa khô, mưa ẩm rõ rệt.
+ Ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung: có hai mùa mưa, khô, nhưng mùa mưa lệch về
thu đông.