Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Đọc hiểu Khuê oán

30653639343437313864383935313561343239313064316436316662303666343236353733613432366664336462623962356162656136363566373632323466
Gửi bởi: Nguyễn Thị Vân vào 07:20 AM ngày 22-08-2019 || Kiểu file: DOCX Lượt xem: 269 | Lượt Download: 0 | File size: 0.020421 Mb

Nội dung tài liệu Tải xuống


Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Thông tin tài liệu

Khuê oán
Vương Xương Linh
I - Gợi dẫn
1. Tác giả Vương Xương Linh (698 ? – 757), nhà thơ nổi tiếng th ời Th ịnh Đ ường, t ự Thi ếu
Bá, người Kinh Triệu – Tràng An (nay là thành phố Tây An, tỉnh Thi ểm Tây, Trung Qu ốc).
Năm 727, đỗ Tiến sĩ rồi lần lượt làm một số chức quan nhỏ, nhiều lần bị cách chức
Sự biến An Lộc Sơn bùng nổ, ông trở về quê. Sau ông bị Thứ sử Hào Châu là Lư Khâu Hiểu
giết chết. Ông để lại cho đời 186 bài thơ và một số tập văn, trong đó có một s ố bài bàn v ề
quy cách làm thơ.
2. Tác phẩm
Khuê oán là tác phẩm thuộc mảng đề tài về chiến tranh và phụ nữ – đó là đ ề tài rất thành
công của Vương Xương Linh. Bài thơ thể hiện diễn biến tâm trạng của một người thiếu phụ
có chồng đi chinh chiến để lập công danh, chức tước. Người thiếu phụ vô tư, yêu đời chợt
nhận ra cảnh ngộ cô đơn của mình khi ngắm sắc xuân của cành dương li ễu và h ối h ận. Và
đương nhiên, qua tâm trạng của người thiếu phụ, nhà thơ thể hiện quá trình chuy ển bi ến t ư
tưởng và sự thay đổi trong nhận thức của mình.
3. Cách đọc
Đọc cả phần phiên âm, chú thích, dịch nghĩa và dịch thơ. Tập so sánh giữa chú thích, bản
dịch nghĩa và bản dịch thơ để thấy sự chuyển hoá từ nghĩa từ điển sang nghĩa văn cảnh của
một số từ.
Phần phiên âm đọc nhịp 2/5, 4/3, 4/3, 2/5. Bản dịch thơ thứ nhất đọc theo cách gieo vần của
thơ lục bát, ngắt nhịp theo các dấu câu. Bản dịch thứ hai ngắt nhịp 4/3, 4/3, 2/5, 4/3.
II - Kiến thức cơ bản
Cuộc đời mỗi con người là quá trình kiếm tìm những chân lí. Nh ưng không phải ai cũng tìm
ra hoặc hiểu được một chân lí nào đó của cuộc sống khi nhìn lại chặng đường đời không mấy
ngắn ngủi mà mình đã trải qua. Có những người lại có khả năng bừng ngộ những chân lí
trước một tình huống nào đó của cuộc sống hoặc sau những trải nghiệm của chính cu ộc đ ời
mình. Chân lí cuộc sống lại thường được thể hiện dưới những hình thức rất hàm súc và cô
đọng. Khuê oán của Vương Xương Linh phản ánh một quá trình bừng ngộ chân lí của người
thiếu phụ. Đó là chân lí về hạnh phúc, mối quan hệ giữa hạnh phúc và s ự nghi ệp. Đằng sau
câu chuyện về sự bừng ngộ nhận thức ấy là thái độ và quan điểm của nhà th ơ về chi ến tranh
phong kiến.
Vương Xương Linh là bậc thầy về thể thơ thất ngôn tuyệt cú Đ ường lu ật, th ể th ơ th ể hi ện
nét tiêu biểu nhất trong vẻ đẹp Đường thi: tính hàm súc. Với hai mươi tám chữ, nhà thơ đã
thể hiện được cả một quá trình chuyển biến tư tưởng của người thiếu phụ, qua đó thể hiện
quá trình nhận thức của chính mình.
1

Trong thời kì phong kiến, chiến tranh gây ra những cảnh li tán, lầm than cho nhân dân.
Chúng ta đã gặp những cảnh tượng thương tâm trong chùm thơ Tam biệt của Đỗ Phủ. Nỗi
đau chiến tranh cũng đã khắc sâu trong tâm hồn dân tộc Việt với câu ca dao:
Con cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trảy nước non Cao Bằng.
Vẫn với chủ đề chống chiến tranh nhưng với tố chất của một thi sĩ đ ời Đ ường, V ương
Xương Linh có một cách thể hiện riêng, rất Đường thi, sang trọng, nhẹ nhàng, tinh tế và rất
sâu sắc. Tác giả không đi sâu khai thác những biểu hiện của nỗi oán mà chú ý đ ến s ự chuy ển
biến tư tưởng.
Bài thơ có bốn câu, chia làm hai phần. Đúng luật Đường thi, câu thứ ba là câu bản l ề c ủa s ự
chuyển đổi tâm trạng và hé mở nội dung tư tưởng của bài thơ.
Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,
Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu.
(Thiếu phụ phòng khuê chẳng biết sầu,
Ngày xuân chải chuốt, bước lên lầu.)
Con người và cảnh vật đều thật tươi mới và tràn đầy sức sống. Thiếu phụ vô tư, không
vương nỗi buồn sầu, không cô đơn não nề như người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của
Đặng Trần Côn:
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong,

Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời
Thiếu phụ say sưa, vui vẻ trong cảnh ngày xuân tươi đẹp, nàng trang điểm và “th ướng thuý
lâu”, bước lên ngôi lầu sơn màu xanh biếc mà ngắm cảnh. Bức tranh ngày xuân th ật viên mãn
và tươi đẹp như tuổi xuân đang độ rực rỡ của người thiếu phụ. Gương mặt trang điểm lộng
lẫy hoà trong sắc màu xanh biếc của cỏ cây, cảnh vật tạo nên một bức tranh xuân không
vương chút âu sầu. Hình ảnh ấy đối lập hoàn toàn với nhan đề Khuê oán. Đó là sự độc đáo
của tứ thơ. Mở đầu như thế rồi tạo một sự chuyển đổi đột ngột ở câu thứ ba:
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
Hối giao phu tế mịch phong hầu.
(Đầu đường chợt thấy màu dương liễu,
Hối để chàng đi kiếm tước hầu.)
Sự chuyển biến tâm lí của thiếu phụ được thể hiện một cách rất tự nhiên. Khi ngắm cảnh
ngày xuân, mọi người vẫn thường ngắm mai ngắm liễu. Trong văn học truyền thống của
2

Trung Quốc, mai và liễu là biểu tượng của mùa xuân, sắc xuân và tuổi xuân. Mai li ễu còn là
hình ảnh thường được dùng để chỉ người con gái đẹp đang ở tuổi xuân ngời. Và liễu còn
mang ý nghĩa tượng trưng chỉ sự li biệt. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà ánh mắt của người
thiếu phụ lại đột nhiên dừng ở cây dương liễu. Các nhà thơ Đường vốn rất quan tâm đ ến
việc lựa chọn những từ ngữ, những hình ảnh có khả năng biểu hiện nhiều nhất, đi ều đó đã
tạo nên tính chất hàm súc, đa nghĩa cho Đường thi. Một “sắc xuân của nhành dương liễu” mà
nói được bao điều : là hình ảnh người thiếu phụ đẹp đang tuổi xuân ngời, là mùa xuân – mùa
của hạnh phúc, tình yêu, của tình phu thê quấn quýt. Nhưng dương liễu còn g ợi n ỗi ni ềm li
biệt. Vì thế, khi “chợt nhìn sắc liễu”, tâm trạng của người thiếu phụ hoàn toàn thay đổi. Lúc
đầu, cảnh sắc ngày xuân tươi đẹp đã cộng hưởng tâm hồn đang tràn đầy s ức s ống c ủa nàng
mà khiến cho nàng “bất tri sầu”. Thế nhưng ngược lại, nhìn cây dương liễu đang khoe sắc
khiến nàng chợt nhận ra cảnh ngộ thực của mình. Cây dương liễu gợi nhớ giây phút chia tay,
gợi những suy nghĩ về tuổi xuân đang tràn trề sức sống và sẽ qua đi, gợi đến cảnh cô đơn.
Nếu hai câu đầu là hình ảnh một thiếu phụ trong sáng, hồn nhiên, vô t ư trong cu ộc s ống đ ủ
đầy, thanh lịch, thì ở câu thơ thứ tư là một thiếu phụ đầy tâm tr ạng. M ột con ng ười v ới hai
trạng thái tâm lí khác nhau xuất hiện trong bốn câu thất ngôn, đó là cái đ ộc đáo c ủa th ơ
Đường. Từ “hốt kiến” chuyển sang “hối giao” một cách hợp lí. Một từ “hối giao” (Tản Đà
dịch là “nghĩ dại”, Trần Trọng San dịch là “tiếc”) nói lên bao nhiêu tâm tư, bao nhiêu trăn tr ở
của người thiếu phụ có chồng đang mải mê đi kiếm t ước hầu. Hai cách d ịch c ủa hai d ịch gi ả
thể hiện hai suy nghĩ trong tâm tư của người thiếu phụ. “Tiếc” đã khuyên chồng đi tòng quân
mong lập công danh để tuổi xuân trôi đi trong cô đơn. “Nghĩ dại” lại gợi đến suy nghĩ bi quan,
hốt hoảng của người thiếu phụ về số phận chông chênh của người chồng nơi chiến trận xa
xôi. ở nơi chiến trường xa xôi đầy nguy hiểm ấy, cơ hội lập được công danh thì ít mà hi ểm
nguy đến tính mạng thì nhiều. Tâm trạng bộn bề, nỗi lòng đau đ ớn c ủa ng ười thi ếu ph ụ có
chồng đi chinh chiến nơi xa mà Đặng Trần Côn diễn tả trong Chinh phụ ngâm đã được
Vương Xương Linh dồn cả vào hai từ “hối giao”. Vì thế câu thơ mang sức nặng tư tưởng của
cả bài thơ, thể hiện một chủ đề lớn và gợi ra bao nhiêu suy ngẫm.
Vương Xương Linh viết bài thơ này trước cuộc binh biến An Lộc Sơn, khi nhà Đường còn
đang hùng mạnh và tiến hành những cuộc chiến tranh để mở rộng biên cương. Việc này đã
khiến rất nhiều người bất bình, Đỗ Phủ đã từng băn khoăn:
Biên đình lưu huyết thành hải thuỷ,
Vũ hoàng khai biên ý vị dĩ !
(Ngoài biên cương máu đã chảy thành biển mà ý định mở rộng biên c ương c ủa nhà vua v ẫn
chưa nguôi !)
(Binh xa hành)
Trong hoàn cảnh ấy, giá trị nổi bật của bài thơ là tiếng nói chống chiến tranh. Giá tr ị nhân
văn của thi phẩm thể hiện ở sự trân trọng khát vọng hạnh phúc chính đáng c ủa ng ười thi ếu
phụ, ở tiếng nói lên án chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi của con ng ười không ch ỉ tu ổi xuân,
3

hạnh phúc mà còn là cả cuộc đời. Với việc thể hiện sự chuyển biến tâm lí c ủa ng ười thi ếu
phụ, nhà thơ đã thể hiện quá trình chuyển biến nhận thức của chính mình : t ừ con ng ười có
tinh thần chủ chiến, khao khát lập công danh bằng đao kiếm trên lưng ngựa đến con người có
tư tưởng phản chiến khi nhận ra được sự tàn khốc của chiến tranh.
III - liên hệ
Đọc thêm bài Tân hôn biệt (Cuộc li biệt của cặp vợ chồng mới cưới) của nhà thơ Đỗ Phủ :
Tơ hồng leo phải cây đay
Quanh co quấn quýt cho dây khó dài
Gả con cho mấy cậu cai
Chẳng thà bỏ quách ở nơi vệ đường
Rẽ ngôi, em bén duyên chàng
Chiếu em chưa ấm cái giường nhà trai
Cưới chiều hôm vắng sớm mai
Duyên đâu lật đật cho người xót xa !
Chàng đi dù chẳng bao xa
Hà Dương đất ấy cũng là đáng lo
Thân em mới mẻ thẹn thò
Chào cha gửi mẹ sao cho nên điều ?
Nhớ xưa bác mẹ nuông chiều
Ngày đêm những bắt nâng niu giữ giàng
Đến khi về tới nhà chàng
Con gà con chó cũng mang theo cùng
Chàng nay đến chốn hãi hùng
Nghĩ thôi em cũng quặn lòng đau thương
Cũng toan quyết chí theo chàng
Chút e tình thế vội vàng chưa yên
Thôi, chàng gác mối tình duyên
Việc binh đã gánh thì nên chuyên cần !
Đàn bà ở đám ba quân
Sợ rằng gươm giáo kém phần xông pha
Xót em thanh bạch con nhà
Có may được tấm quần là từ lâu
Quần là còn mặc đi đâu ?
Đối chàng, xin rửa hết màu phấn son
Ngửa trông chim chóc bao con
Con to con nhỏ cũng còn bay đôi.
Dở dang ngán cái kiếp người,
Cùng chàng, thôi sẽ suốt đời nhớ mong.
4

5