Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

Đề thi thử THPT Quốc gia năm 2017 môn Địa lý trường THPT Yên Lạc, Vĩnh Phúc (Lần 3)

2b195fb66da3ded677ebc5a21b9a66d3
Gửi bởi: Tuyển sinh 247 vào 01:13 PM ngày 22-02-2017 || Kiểu file: DOC Lượt xem: 219 | Lượt Download: 12 | File size: 0 Mb

Nội dung tài liệu Tải xuống


Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Thông tin tài liệu

Bi kịch của cuộc đời Lỗ Tấn
Có thể nói đời Lỗ Tấn là một chuỗi bi kịch. Thái độ căm thù xã hội cũ, bi quan v ới hi ện t ại, s ự
hăng hái công kích các thói hư tật xấu của người đời bằng giọng văn châm bi ếm cay nghi ệt th ể
hiện trong các tác phẩm của ông đã phản ánh các bi kịch mà ông từng trải qua.
Bi kịch hôn nhân
Từ sau ngày nước CHND Trung Hoa ra đời, tất cả các từ đi ển ho ặc sách báo chính th ống n ước này
đều viết Lỗ Tấn là chủ tướng của cách mạng văn hóa Trung Quốc, nhà văn h ọc vĩ đại, nhà t ư t ưởng
và nhà cách mạng vĩ đại. Ngoài ra năm 1938 Mao còn nói “L ỗ T ấn là Thánh nhân b ậc nh ất Trung
Quốc, Khổng Tử là thánh nhân của xã hội phong kiến, Lỗ Tấn là thánh nhân của Trung Quốc M ới”.
Nhưng tất cả những lời ca tụng kể trên đều xuất hiện sau khi ông đã qua đ ời. Trong th ực t ế, sinh th ời
Lỗ Tấn sống không dễ chịu chút nào. Đời sống gia đình nặng nề do không có tình cảm v ới v ợ r ồi ti ếp
đến sự bất hòa với người em trai tài hoa ông hằng quý m ến. Trong xã h ội ông cũng b ị không ít văn
nhân công kích, dù họ đều thừa nhận văn tài hơn người c ủa ông. Thái đ ộ căm thù xã h ội cũ, bi quan
với hiện tại, sự hăng hái công kích các thói hư tật xấu c ủa ng ười đ ời bằng gi ọng văn châm bi ếm cay
nghiệt thể hiện trong các tác phẩm của Lỗ Tấn đã phản ánh các bi kịch mà ông từng tr ải qua.
Có thể nói đời Lỗ Tấn là một chuỗi bi kịch. Cha chết khi ông m ới 16 tu ổi; là con tr ưởng, ông ph ải
thay cha trông nom mẹ và các em. Vì thế mặc dù là người dẫn đ ầu trào l ưu ch ống l ại các h ủ t ục c ủa
xã hội phong kiến, nhưng chính ông lại buộc phải tuân theo các h ủ t ục ấy. Năm 25 tu ổi (1906), m ới
sang Nhật du học được 4 năm Lỗ Tấn nhận được điện báo “Mẹ ốm về ngay”. Ông t ức t ốc v ề quê.
Đến nơi thì thấy trong nhà treo đèn kết hoa, thì ra bà m ẹ gọi về bắt l ấy v ợ. Cô dâu bà ch ọn là Chu An,
cùng quê Thiệu Hưng tỉnh Triết Giang. Để chiều lòng mẹ và biết rằng có ph ản đ ối cũng vô ích, ông
đành chấp nhận tất cả. Đến lúc cưới, ông mới biết mặt vợ – một cô gái thấp nhỏ, mặt dài, trán dô, bó
chân, tướng mạo đã xấu mà lại không có chút nào sức sống của người thiếu nữ có thể thu hút đàn ông;
chưa kể còn mù chữ và hơn ông 3 tuổi. Chu An hoàn toàn không xứng đôi v ới L ỗ T ấn, m ột thanh niên
tân
học
đang
háo
hức
tiếp
nhận
văn
minh
phương
Tây.
Bị ép lấy người mình không yêu, Lỗ Tấn dứt khoát không chịu coi Chu An là v ợ. Đêm tân hôn, chú r ể
không ngủ cùng cô dâu. Bốn hôm sau ông lên đường trở lại Nhật, mang theo em là Chu Tác Nhân v ừa
thi đỗ lấy được học bổng du học Nhật.
Về sau ai hỏi về chuyện này Lỗ Tấn đều nói: Đây là mẹ tôi l ấy con dâu ch ứ đâu ph ải chuy ện c ủa tôi.
Quả thật mẹ ông đã lấy được cô con dâu chăm nom bà hết sức tận tình, chu đáo m ặc dù Chu An su ốt
đời sống trong sự ghẻ lạnh của chồng.
Năm 1909 Lỗ Tấn về nước đi làm, có sống ở quê nhà cùng mẹ và v ợ m ột th ời gian ng ắn (tháng 89/1909 và tháng 7/1910-2/1912), nhưng cũng hoàn toàn ly thân với vợ.
Vụ hôn nhân cưỡng ép này khiến Lỗ Tấn càng nhận thức sâu sắc hơn nỗi kh ổ của ng ười Trung Qu ốc
do các hủ tục của xã hội phong kiến đem lại.
Năm 1919 Lỗ Tấn cùng Chu Tác Nhân quyết định mua nhà ở số 11 ngõ Bát Đạo Loan (B ắc Kinh), đón
mẹ, vợ và gia đình hai em trai lên ở. Vợ chồng ông vẫn ngủ mỗi người một phòng. Tuy vậy, không khí
ấm cúng cả đại gia đình cùng đoàn tụ dưới một mái nhà làm cho L ỗ T ấn đ ỡ bu ồn vì chuy ện ly thân
với
vợ.

Nhưng ngày tháng tốt đẹp không được bền lâu. Bốn năm sau, do mâu thu ẫn v ới v ợ ch ồng Chu Tác
Nhân, ông buộc phải đưa mẹ và vợ đến ở nhờ nhà người quen tại số nhà 61 ngõ Chuyên Tháp. Tháng
5/1924 ông mua nhà ở ngõ Tây Tam Điều, cũng không rộng rãi, đón mẹ và vợ về đây, vẫn ly thân.
Mẹ ông kể: Suốt ngày hai vợ chồng Lỗ Tấn chỉ nói với nhau ba từ. Bu ổi sáng v ợ g ọi ch ồng d ậy,
chồng đáp “Ờ”; đến bữa ăn, vợ gọi, chồng cũng đáp “ Ờ”; bu ổi t ối v ợ đi n ằm s ớm nên h ỏi có khóa
cổng không, chồng đáp “Có” hoặc “Không”. Chỉ khi nào vợ xin ti ền thì ch ồng m ới nói thêm vài câu
như “Cần bao nhiêu ?” hoặc bảo nên mua thứ này thứ nọ, nhưng chuyện ấy m ỗi tháng ch ỉ xảy ra m ột
hai lần. Về sau bà Chu An kể lại: “Mẹ chồng tôi cứ trách tôi không có con, nh ưng su ốt năm ông ấy
không nói với tôi câu nào thì sao mà có con được”.
Lỗ Tấn từng khuyên vợ đi học chữ, nhưng Chu An không chịu học. Ông bảo: Th ế thì m ỗi ng ười m ột
nơi vậy, hay mình về nhà mẹ đẻ mà ở. Chu An tỏ ý suốt đời chỉ ở với mẹ chồng.
Sau Phong trào Ngũ Tứ, trong trào lưu phá bỏ hủ tục cũ, không ít nhà trí thức từng b ị hành h ạ b ởi ki ểu
hôn nhân hủ lậu đều tự giải thoát bằng cách li dị vợ, như hai nhà th ơ Quách M ạt Nh ược và U ất Đ ại
Phu. Có người khuyên Lỗ Tấn làm thế nhưng ông không nghe. Dân Thiệu Hưng thời ấy coi phụ nữ bị
chồng li dị là loại người bỏ đi, họ không dám về nhà bố mẹ đẻ vì sợ bị khinh ghét; có ng ười qu ẫn trí
tự tử. Lỗ Tấn đã cân nhắc kỹ việc này, ông đành chịu suốt đời s ống đ ộc thân ch ứ không n ỡ đ ể v ợ r ơi
vào
cảnh
khốn
cùng
ấy.
Rốt cuộc Lỗ Tấn vẫn tìm thấy tổ ấm của mình. Năm 1925, ông nhận được thư của Hứa Quảng Bình,
cô học trò kém ông 17 tuổi từng tích cực tham gia phong trào Ngũ T ứ, có t ư t ưởng cách m ạng và hi ểu
biết nhiều. Qua đọc tác phẩm của Lỗ Tấn mà cô cảm phục và đi đến chủ động yêu ông.
Năm 1926 Lỗ Tấn về làm việc tại Hạ Môn; để vợ và mẹ ở lại Bắc Kinh. Từ tháng 10/1927 ông chung
sống với Hứa Quảng Bình. Biết tin ấy, Chu An nói với hàng xóm: “Tr ước đây tôi đều mu ốn h ầu h ạ
ông ấy thật chu đáo, mọi việc nhất nhất nghe ông ấy, tin rằng như vậy chắc là về sau m ọi chuy ện s ẽ
tốt đẹp. Tôi chẳng khác gì con ốc sên bò từng tí từng tí lên bức tường, mong r ằng s ẽ có ngày lên đ ến
chỗ cao nhất. Nhưng bây giờ thì hết hơi sức rồi. Tôi có tốt đến mấy với ông ấy cũng hoài công.”
Cho tới trước ngày qua đời, Lỗ Tấn có lên Bắc Kinh thăm m ẹ hai l ần vào tháng 5/1929 và tháng
11/1932, dĩ nhiên vẫn ly thân với Chu An. Suốt đời ông gửi tiền nuôi m ẹ và Chu An. Sau khi ông m ất,
Hứa Quảng Bình tiếp tục làm bổn phận ấy.
Hứa Quảng Bình sống với Lỗ Tấn được 12 năm, họ có một con trai sinh năm 1929 đ ặt tên là Chu H ải
Anh. Bà Hứa giúp ông rất nhiều trong việc chép bản thảo, thu xếp ch ỉnh lý sách v ở, th ư t ừ, gi ấy t ờ
của ông. Suốt hơn 30 năm sau khi ông mất, bà vẫn ti ếp t ục dùng ngòi bút bảo v ệ ông. Năm 2010,
Trung Quốc xuất bản cuốn Hồi ký về Lỗ Tấn của Hứa Quảng Bình. Qua đó người ta càng hi ểu thêm
về
cuộc
sống
nội
tâm
của
ông.
Vì chuyện hôn nhân bi đát như thế nên các tác ph ẩm của L ỗ T ấn r ất ít nói t ới tình yêu và h ạnh phúc
gia đình, nếu nói tới thì đều có kết cục thất vọng, bi thảm. Nỗi khổ chuyện hôn nhân v ới Chu An làm
cho ông nhìn đời khá bi quan, song cũng vì thế mà ông quan sát cu ộc s ống c ủa ng ười dân sâu s ắc h ơn.
Thập niên 30 nhà văn Phùng Tuyết Phong đến thăm Mao Trạch Đông t ại chi ến khu Th ụy Kim có k ể
cho Mao nghe chuyện sau: Một người Nhật từng nói cả Trung Quốc chỉ có hai ng ười r ưỡi hi ểu được
dân mình, một là Lỗ Tấn và một là Tưởng Giới Thạch; nửa người kia là Mao Tr ạch Đông. Nghe xong,
Mao
cười
ha
hả.
Bi kịch huynh đệ

Một bi kịch lớn nữa trong đời Lỗ Tấn là sự tan vỡ tình huynh đệ với Chu Tác Nhân. Ông có hai em trai
kém mình 4 và 7 tuổi. Em lớn Chu Tác Nhân r ất thông minh, văn tài không kém anh. Phùng Tuy ết
Phong từng nói Chu Tác Nhân là nhà văn hàng đầu Trung Quốc. Lỗ Tấn v ốn quý ng ười tài, vì th ế ông
rất nâng đỡ em mình. Trong thời gian ở Nhật, hai anh em cùng d ịch và xu ất b ản T ập ti ểu thuy ết n ước
ngoài, lấy tên tác giả là Anh em họ Chu. Giới nhà văn Nhật r ất phục văn tài c ủa hai anh em L ỗ T ấn.
Năm 1909, Chu Tác Nhân lấy vợ là Vũ Thái Tín Tử (ng ười Nh ật, tên Trung Qu ốc là Chu Tín T ử),
nguyên là cô giúp việc nấu cơm của nhóm du học sinh Trung Quốc ở Sendai. Sau khi l ấy v ợ, Chu Tác
Nhân trở nên túng thiếu do tiền học bổng không đủ nuôi hai vợ ch ồng. Vì mu ốn em h ọc thành tài và
được sống hạnh phúc, Lỗ Tấn đành về nước làm giáo viên dạy ở tr ường Sư phạm Tri ết Giang, ti ết
kiệm dành dụm tiền lương gửi sang Nhật giúp em, thậm chí giúp cả gia đình Tín Tử.
Chu Tác Nhân về nước năm 1911, ở Thiệu Hưng với mẹ; năm sau thì v ợ sinh con đ ầu lòng. Hàng
tháng Lỗ Tấn đều gửi về Thiệu Hưng 100 đồng giúp mẹ, vợ và các em. Năm 1917, Thái Nguyên B ồi
(quen Lỗ Tấn) được cử làm Hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh, nhờ Lỗ Tấn gi ới thi ệu, Chu Tác Nhân
được bổ nhiệm làm giáo sư khoa Trung văn trường này và chuyển lên ở Bắc Kinh.
Thời kỳ Ngũ Tứ, hai anh em sát cánh bên nhau chi ến đ ấu trong phong trào Tân Văn hóa, tr ở thành nòng
cốt phong trào này.
Sau khi mua nhà ở Bắc Kinh, cuối năm 1919 cả đại gia đình đều lên đây ở, g ồm bà m ẹ, v ợ ch ồng L ỗ
Tấn, vợ chồng Chu Tác Nhân và Chu Kiện Nhân; ngoài ra còn có c ả ng ười em trai c ủa Tín T ử. Tác
Nhân và Kiến Nhân lấy vợ là hai chị em người Nhật và đều đã có con nh ỏ. H ơn ch ục ng ười ở cùng
nhà, ăn cùng bếp. Vì con dâu cả Chu An mù chữ nên con dâu thứ hai là Tín T ử thay bà m ẹ qu ản lý toàn
bộ việc chi tiêu của đại gia đình.
Phần lớn phụ nữ Nhật đều nhu mì, riêng Tín Tử lại đanh đá, chua ngoa và luôn lên m ặt ta đây ng ười
Nhật, khinh thường người Trung Quốc. Có người nói cô ta mắc chứng hysteria. M ột l ần cãi nhau v ới
chồng, Tín Tử lăn ra giãy đành đạch giả chết, em trai và em gái cô xúm vào m ắng nhi ếc Tác Nhân, r ồi
còn kéo Tác Nhân đến Lãnh sự quán Nhật để “nói chuy ện”. T ừ đó tr ở đi Chu Tác Nhân đành ngoan
ngoãn để vợ muốn làm gì thì làm, cốt sao mình được yên thân đọc sách và vi ết lách.
Tín Tử tuy xuất thân nhà nghèo nhưng lại ưa lối sống hưởng lạc, đài các phô tr ương, sĩ di ện hão, tiêu
tiền như rác. Có bữa đầu bếp nấu không ngon, cô ta bắt đổ đi nấu món khác. Trong nhà thuê ngót ch ục
người giúp việc: quản gia, đầu bếp, bảo mẫu, đầy tớ, kéo xe (nhà có 3 xe tay). Tín Tử đi đâu cũng đi ô
tô, rất tốn kém vì ngày ấy xe hơi còn hiếm và đắt. M ọi th ứ đ ồ dùng đ ều ch ỉ mua ở c ửa hi ệu c ủa
người Nhật. Nhà có ai ốm đau dù trẻ con sốt nhẹ cũng m ời bác sĩ Nh ật, m ỗi l ần m ời t ốn trên ch ục
bạc. Cách tiêu pha hoang đàng ấy làm cho Lỗ T ấn r ất khó ch ịu, vì t ừ x ưa ông quen s ống ti ết ki ệm,
giản dị.
Hàng tháng Lỗ Tấn lĩnh lương đều đưa hết cho em dâu. Lương viên chức hồi ấy r ất cao, thu nh ập c ủa
hai anh em cộng lại mỗi tháng không dưới 600 đồng (Kiến Nhân ch ưa có vi ệc làm), nhi ều h ơn c ả chi
tiêu trong một năm của gia đình 5 người bình thường. Tuy thế Tín Tử vẫn kêu thi ếu ti ền. L ỗ T ấn phải
đưa cả tiền tiết kiệm của mình cho em dâu, thậm chí có l ần ph ải đi vay bạn bè. Là anh c ả, l ại có m ẹ
ở đây nên ông đành nhẫn nhịn chịu đựng, hy sinh tất cả, miễn sao đại gia đình hòa thuận.
Người đông, ở chung ăn chung lại túng tiền tiêu như vậy không thể không x ảy ra chuy ện va ch ạm.
Chu Tác Nhân vốn có tâm lý nô lệ cho là người Nhật gi ỏi h ơn ng ười mình, không dám can ngăn v ợ.
Tín Tử ghét vợ chồng Lỗ Tấn, chỉ muốn chiếm cả tòa nhà, thường không cho lũ con mình ăn k ẹo bác
cả mua cho và dặn chúng không được vào chơi phòng bác cả.

Năm 1921, em út Kiến Nhân xin được việc ở Thượng Hải nên phải về Thượng Hải, vợ là Phương Tử
không chịu đi theo. Về sau Chu Kiến Nhân chung sống với một phụ n ữ khác và tham gia cách m ạng.
Mối quan hệ với Phương Tử tan vỡ tới mức ông phải bỏ vợ, từ con. Cuối đời ông cũng có cu ộc s ống
êm ấm, làm tới chức Phó Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc.
Trong nhà bây giờ hai cô con dâu chị em người Nhật tha hồ làm mưa làm gió; bà mẹ và con dâu c ả Chu
An quê mùa không có tiếng nói gì. Lỗ Tấn có lần khuyên em bảo v ợ chi tiêu nên có k ế ho ạch, nh ưng
Tác Nhân lờ đi không dám nói gì; thậm chí còn nghe v ợ, đ ịnh đón b ố m ẹ v ợ t ừ Nh ật sang B ắc Kinh
phụng dưỡng. Lỗ Tấn không tán thành, mâu thuẫn giữa hai anh em ngày càng sâu sắc.
Vì đều là trí thức cao cấp có tiếng tăm trong xã h ội, cho nên tuy b ất đ ồng v ới nhau nh ưng hai ng ười
đều không để lộ ra ngoài. Nhật ký của họ (sau này m ới công b ố) đ ều vi ết những l ời r ất t ốt v ề nhau.
Nhưng khi cái ung nhọt sưng to quá thì nó tự vỡ.
Nhật ký Lỗ Tấn ngày 14/7/1923 viết: “Tối nay đổi thành ăn trong phòng mình, m ột mâm riêng, vi ệc
này đáng ghi lại.” Nghĩa là từ hôm ấy ông không được ăn chung với đại gia đình n ữa. T ất c ả là do cô
em dâu sắp đặt.
Nhật ký ngày 19 viết “Khởi Mạnh (tức Tác Nhân) tự mang th ư đ ến, sau mình có h ỏi, không đ ược tr ả
lời.”. Nghĩa là đọc thư xong, Lỗ Tấn muốn em nói rõ hơn, nhưng bị từ chối.
Mãi đến năm 1988, bức thư này mới được công bố:
“Tiên sinh Lỗ Tấn: Tối hôm qua tôi mới biết…nhưng thôi, bất tất phải nói chuyện cũ. Tôi không phải
là tín đồ Kitô Giáo, nhưng may sao vẫn chịu đựng nổi, cũng chẳng muốn trách ai cả …
Thế gian này mọi người đều đáng thương. Giấc mộng Tường Vi ngày trước của tôi té ra là h ư ảo, có
lẽ cái giờ đây nhìn thấy mới là cuộc đời thực sự. Tôi muốn đính chính t ư t ưởng c ủa mình, tr ở l ại cu ộc
sống mới. Sau này xin chớ đến nhà sau, không còn lời nào nữa. Mong ông yên tâm, t ự gi ữ mình. Tháng
7 ngày 18, Tác Nhân.”
Chuyện gì tối qua Tác Nhân mới biết? Đây là câu hỏi mãi mãi không có gi ải đáp. Gi ấc m ộng T ường Vi
(Rose’s Dream), là nói Tác Nhân từng m ơ ước xây d ựng “Thôn xóm m ới” ở Trung Qu ốc, n ơi ng ười
dân sống hòa thuận với nhau. Tác Nhân muốn nói thì ra m ơ ước m ấy anh em mình đ ược s ống chung
một nhà chỉ là chuyện ảo tưởng. Nhà sau là nói nhà ở của vợ ch ồng Tác Nhân. Nhà s ố 61 Bát Đ ạo
Loan có 3 dãy nhà, Lỗ Tấn ở nhà ngoài, bà mẹ ở nhà giữa, Chu Tác Nhân ở nhà trong cùng, cách m ột
cái
vườn
trồng
hoa.
Ngày 2/8, Lỗ Tấn đưa mẹ và vợ dọn đến ở tạm tại ngõ Chuyên Tháp. Ông ghi nh ật ký: “M ưa. Sau
ngọ tạnh. Chiều đưa vợ dọn đến số 61 ngõ Chuyên Tháp.” Nhật ký của Tác Nhân cùng ngày vi ết:
“Sáng nay vợ chồng L. dọn đến ngõ Chuyên Tháp.” L. tức Lỗ Tấn, rõ ràng, Chu Tác Nhân không mu ốn
nhắc
tới
tên
anh
mình
nữa.
Nhật ký Lỗ Tấn ngày 11/6/1924 cho biết: Chiều hôm ấy ông quay l ại nhà cũ l ấy sách v ở và đ ồ dùng
thì bị vợ chồng Tác Nhân te tát chửi bới và đánh ông. Tín Tử dùng lời l ẽ thô t ục, b ịa đ ặt nhi ều chuy ện
nói xấu ông. Lỗ Tấn phải chống trả, họ mới rút lui.
Sau này bà mẹ có nói hai anh em bất hòa, lỗi tại Tác Nhân. Bà than th ở: Giá mà mình đ ừng sinh ra cái
thằng ấy thì phải! Bà cũng nói thật lòng: Tách ra ở riêng thế này có l ợi cho đ ại tiên sinh (t ức L ỗ T ấn).
Đúng thế, từ nay tiền của Lỗ Tấn không bị Tín Tử phung phí nữa, nh ờ thế về sau ông có đi ều ki ện
ủng hộ rất nhiều tiền cho cách mạng.

Trước khi qua đời, Lỗ Tấn viết trong chúc thư gửi mẹ là ông bị lũ đàn bà ng ười Nh ật trong nhà đu ổi
đi, chết cũng không nhắm được mắt.
Suốt đời Lỗ Tấn vẫn quan tâm tới Tác Nhân. Ông bảo Kiện Nhân: Bây gi ờ “Bát Đạo Loan ch ỉ còn m ột
người Trung Quốc mà thôi”, ý nói chỉ còn Tác Nhân và ba chị em ng ười Nh ật c ủa Tín T ử. Nói v ề Tác
Nhân, ông chỉ nhận xét một từ “Hôn” (u mê) mà chưa hề trách c ứ đi ều gì. Đúng th ế. V ề sau Tác Nhân
ngày càng u mê, ngày càng xa rời Lỗ Tấn về t ư tưởng. Năm 1939 Chu Tác Nhân nh ận l ời m ời c ủa
chính phủ bù nhìn Uông Tinh Vệ thân Nhật làm Giám đốc Thư vi ện ĐH Bắc Kinh r ồi Giám đ ốc Vi ện
Văn học trường này. Năm 1941 lại nhận làm Ủy viên Ủy ban Chính vụ Hoa Bắc kiêm Đốc bi ện T ổng
Nha
Giáo
dục
trong
chính
phủ

nhìn.
Tháng 12/1946, chính phủ Tưởng Giới Thạch bắt giam Chu Tác Nhân, kết tội làm Hán gian cho Nh ật,
án tù 14 năm, sau giảm còn 10. Khi Lý Tôn Nhân lên làm T ổng th ống Trung Hoa Dân qu ốc (1/1949)
chủ trương tha toàn bộ tù chính trị, Chu Tác Nhân được trả tự do. Ông không nghe lời khuyên c ủa H ồ
Thích đi Đài Loan mà ở lại đại lục.
Tháng 8/1949, trước ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, Chu Tác Nhân về nhà cũ t ại Bát Đ ạo
Loan. Ông viết thư lên Thủ tướng Chu Ân Lai biện bạch cho quá khứ c ủa mình, xin không b ị coi là
Hán gian và xin giữ lại nhà cũ. Chủ tịch Mao đồng ý, v ới lý do bây gi ờ r ất hi ếm ng ười bi ết C ổ Hy
Lạp ngữ, nên để Chu Tác Nhân chuyên dịch sách cổ Hy Lạp.
Chu Tác Nhân được làm việc ngoài biên chế tại NXB Nhân dân, hàng tháng đ ược tr ả nhu ận bút c ố
định rất hậu (600 tệ, gấp đôi lương giáo sư ĐH). Ngoài vi ệc d ịch nhi ều tác ph ẩm văn h ọc c ổ Nh ật
Bản và cổ Hy Lạp với chất lượng dịch thuật rất cao, ông còn xuất bản “Quê nhà L ỗ T ấn”, “Các nhân
vật trong tiểu thuyết Lỗ Tấn” và “Thời thanh niên của Lỗ Tấn”. Do b ị t ước đoạt quy ền l ợi chính tr ị
nên các tác phẩm của Chu Tác Nhân không được dùng tên thật. Trong Cách m ạng Văn hóa, ông b ị đ ấu
tố đánh đập rất khổ và đột tử năm 1967.
Sau khi tuyệt giao, Lỗ Tấn và Chu Tác Nhân không gặp nhau l ần nào. Có đi ều h ọ ứng x ử r ất văn
minh, không bao giờ nói xấu nhau, không bao giờ nói về lý do b ất hòa. Trong các sách vi ết v ề anh
mình, Tác Nhân không hề đả động đến chuyện họ chia tay nhau. Cho t ới nay, dư luận Trung Qu ốc v ẫn
đồn đoán về nguyên nhân mối bất hòa này. Chu Kiến Nhân và nhi ều người khác cho r ằng đây hoàn
toàn chỉ là chuyện gia đình, và có liên quan đến vợ Chu Tác Nhân, ch ứ không phải v ấn đ ề b ất đ ồng t ư
tưởng. Nhưng cụ thể là chuyện gì thì không ai biết. Mối bất hòa giữa Lỗ Tấn với Chu Tác Nhân được
coi là một trong mười nghi án lớn nhất của lịch sử văn học Trung Qu ốc.
Lỗ Tấn mất năm 55 tuổi. Bà Chu An mất năm 69 tuổi (1947), Hứa Qu ảng Bình – 70 tu ổi (1968). Hai
em ông đều thọ: Chu Tác Nhân – 82 tuổi, Chu Kiến Nhân – 96. Trong ba anh em, L ỗ T ấn có cu ộc đ ời
tình cảm lận đận hơn cả, tuy rằng sau khi mất ông được tôn vinh cao nhất trong làng văn Trung Quốc.
2020-09-30 00:45:56