Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

28 Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn

Gửi bởi: Phạm Thọ Thái Dương vào ngày 2020-06-25 02:12:18 || Kiểu file: DOC Lượt xem: 328 | Lượt Download: 2

Nội dung tài liệu Tải xuống

Link tài liệu:

Các tài liệu liên quan

Loading...

Thông tin tài liệu

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẮC GIANG

ĐỀ THI CHÍNH THỨC

KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT
NĂM HỌC 2018-2019
MÔN THI: NGỮ VĂN
Ngày thi: 05/6/2018
Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề)

Câu 1 (2,0 điểm).
Đọc bài thơ sau và trả lời những câu hỏi ở dưới:
Lặng rồi cả tiếng con ve
Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.
Nhà em vẫn tiếng ạ ời
Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.
Lời ru có gió mùa thu
Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.
Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.
(Mẹ, Trần Quốc Minh, Theo Thơ chọn với lời bình,
NXB Giáo dục, 2002, tr. 28 - 29)
a. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
b. Trong bài thơ, những âm thanh nào được tác giả nhắc đến?
c. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.
Câu 2 (3,0 điểm).
Em hãy viết một bài văn (khoảng 300 chữ) bàn về lòng hiếu thảo.
Câu 3 (5,0 điểm).
Cảm nhận của em về nhân vật ông Hai trong đoạn trích sau:
Cổ ông lão nghẹn ắng hằn lại, da mặt tê rần rần. Ông lão lặng đi, tưởng như đến
không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở có, ông cất
tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi:
- Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại …
[...] Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng [...]
Ông Hai củi gằm mặt xuống mà đi. Ông thoáng nghĩ đến vụ chủ nhà.
Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len
lét đưa nhau ra đầu nhà chơi sặm chơi sụi với nhau.

Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng
Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng
ấy tuổi đầu... Ông lão năm chặt hai tay lại mà rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán
nước để nhục nhã thế này.
Ông lão bỗng ngừng lại, ngơ ngơ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái
bọn ở làng lại đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ
toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một
chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!...
Nhưng sao lại nẩy ra cái tin như vậy được? Mà thằng chánh Bệu thì đích thị là người
làng không sai rồi. Không có lửa thì sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra
những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết
làm ăn, buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái
nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán
nước… Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người một phương nữa không biết
họ đã rõ cái cơ sự này chưa?…
(Trích Làng, Kim Lân, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo Dục, 2014, tr 165 - 166)
------------------------------------- HẾT -------------------------------------

ĐÁP ÁN THAM KHẢO
Câu 1:
a) Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát

b) Trong bài thơ, những âm thanh được tác giả nhắc đến là: tiếng ve, tiếng võng kêu,
tiếng mẹ hát ru.
c) Biện pháp tu từ:
- Ẩn dụ: "giấc tròn" => Cách nói ẩn dụ "giấc tròn" không phải chỉ là giấc ngủ của con
mà còn mang ý nghĩa cuộc đời con luôn có mẹ theo sát bên nâng bước con đi, che
chở cho con, dành tất thảy yêu thương.
Câu 2: Tham khảo dàn ý sau
I. Mở đoạn: Nêu vấn đề cần bàn luận
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
- Đây là những câu tục ngữ nói về lòng hiếu thảo của con người, không chỉ chúng ta
có lòng biết ơn đối với cha mẹ mà lòng biết ơn còn được thể hiện với ông bà và đất
nước.
- Hiếu thảo là là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ xưa đến nay, là một phẩm
chất tốt đẹp của con người Việt Nam ta.
II. Thân đoạn
1. Hiếu thảo là gì?
- Hiếu thảo là hành động đối xử tốt với ông bà cha mẹ, luôn yêu thương họ
- Lòng hiếu thảo là phụng dưỡng ông bà cha mẹ khi ốm yếu và già cả
2. Biểu hiện của lòng hiếu thảo như thế nào?
- Những người có lòng hiếu thảo là người luôn biết cung kính và tôn trọng ông bà,
cha mẹ
- Biết vâng lời và làm cho cha mẹ được vui vẻ, tinh thần được yên tâm.
- Luôn biết sống đúng chuẩn mực với đạo đức xã hội, thực hiện lễ nghi hiếu nghĩa đối
với các bậc sinh thành.
- Lòng hiếu thảo là hành vi vô cùng ý nghĩa mang lại danh tiếng tốt cho ông bà cha
mẹ và tổ tiên.
3. Vì sao cần phải có long hiếu thảo với ông bà cha mẹ?
- Ông bà cha mẹ là người đã sinh ra ta, đã mang lại cuộc sống này cho chúng ta
- Hiếu thảo là một chuẩn mực đạo đức của xã hội
- Sống hiếu thảo với ông bà cho mẹ là thể hiện sống có trách nhiệm của mỗi người
- Người có lòng hiếu thảo luôn được mọi người yêu mến và quý trọng
- Khi bạn hiếu thảo thì con cái của bạn sau này sẽ hiếu thảo với bạn
- Giá trị của bạn sẽ được nâng cao nếu sống có hiếu thảo
- Lòng hiếu thảo gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau, thể hiện tình yêu
thương gia đình
4. Cần làm gi để có được lòng hiếu thảo?

- Phải biết kính trọng và yêu thương ông bà cha mẹ
- Chăm sóc, phụng cha mẹ ông bà khi về già
- Cư xử tốt với ông bà cha mẹ, không cãi lại
- Yêu thương anh em trong nhà
5. Liên hệ
- Em đã làm những gì để thể hiện lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ
- Phê phán những người không hiếu thảo trong xã hội hiện nay: sống bất hiếu, vô lễ,
thậm chí còn đánh đập đối xử tàn nhẫn, bỏ rơi cha mẹ già. Đó là một lối sống vô ơn,
một nhân cách kém cỏi, đáng chê trách.
III. Kết đoạn
- Phải sống hiếu thảo với ông bà cha mẹ
- Cần thể hiện lòng hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ ngay từ hôm nay.
Câu 3:

ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT MÔN NGỮ VĂN SỞ GD&ĐT
BẮC NINH NĂM HỌC 2018 - 2019
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên
dưới:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
(Ngữ văn 9, Tập một)
Câu 1. (1,0 điểm)
Đoạn thơ trên được trích từ tác phẩm nào, của tác giả nào? Nêu thể loại và thể thơ
của tác phẩm đó.
Câu 2. (0,5 điểm)
Trong đoạn trích trên, tác giả đã sử dụng những từ láy nào?
Câu 3. (1,5 điểm)
Chỉ rõ và nêu tác dụng của biện pháp điệp ngữ trong đoạn thơ trên.
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Trong cuộc sống, ai cũng cần có tình bạn. Nếu không có tình bạn cuộc sống thật buồn
chán biết bao. Hãy viết đoạn văn (khoảng 15 câu) phát biểu suy nghĩ của em về một
tình bạn đẹp.
Câu 2. (5,0 điểm) Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục

Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.''
(Trích Nói với con - Y Phương, Ngữ văn 9, Tập hai)
GỢI Ý LÀM BÀI:
Câu 1:
- Đoạn thơ trên trích từ tác phẩm “Truyện Kiều” của tác giả Nguyễn Du.
- Thể loại: Truyện thơ Nôm
- Thể thơ: Lục bát
Câu 2:
- Những từ láy được sử dụng trong đoạn thơ trên là: thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu
rầu, xanh xanh, ầm ầm
Câu 3: Điệp ngữ “buồn trông" được lặp lại 4 lần trong đoạn thơ trên. Buồn trông có
nghĩa là buồn nhìn ra xa, trông ngóng điều gì đó vô vọng.
+ Điệp ngữ này được kết hợp với những hình ảnh đứng sau nó như: cửa bể, con
thuyền, cánh buồm, ngọn nước hoa trôi, cỏ nội, chân mây mặt đất, gió, sóng... vừa
gợi thân phận cô đơn, lênh đênh, trôi dạt trên dòng đời vô định, vừa diễn tả nỗi buồn
ngày càng tăng tiến, chồng chất ghê gớm, mãnh liệt hơn.
+ Các điệp ngữ còn kết hợp với các từ láy: thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu,
xanh xanh, ầm ầm tạo nên nhịp điệu ào ạt của cơn sóng lòng, khi trầm buồn, khi dữ
dội, xô nỗi buồn đến tuyệt vọng.
=> Phép điệp tu từ lặp lại một yếu tố diễn đạt (vần, nhịp, từ, cụm từ, câu) nhằm nhấn
mạnh, biểu đạt cảm xúc và ý nghĩa, có khả năng gợi hình tượng nghệ thuật và tạo
nhịp điệu cho câu thơ, tác động mạnh mẽ tới cảm xúc người đọc.
Phần II. Làm văn
Câu 1:
1. Giới thiệu vấn đề: Tình bạn đẹp
2. Giải thích vấn đề:
- Tình bạn là thứ tình cảm được gây dựng trên cơ sở những đặc điểm chung giữa
người này và người khác. Đó có thể là sở thích, năng khiếu, công việc,... nhưng
thường là sự tương đồng về độ tuổi, tâm lí, tính cách,...
- Một tình bạn đẹp trước hết phải là một tình bạn được xây dựng trên cơ sở sự đồng
cảm, vô tư, không vụ lợi, tính toán. Điều đó có nghĩa là những người bạn đến với
nhau vì những yếu tố khách quan: cùng giống nhau về tính cách, sở thích, tâm lí,...
nên tìm đến nhau để sẻ chia, tâm sự.
3. Bàn luận, mở rộng:

- Tại sao chúng ta cần có những tình bạn đẹp?
+ Không ai có thể tồn tại độc lập và tách biệt, không có một mối liên hệ nào với
những người xung quanh. Vì vậy để cân bằng cuộc sống của mình, con người cần có
những mối quan hệ vững chắc ngoài gia đình để sẻ chia, để quan tâm. Tình bạn đẹp
chính là một trong những mối quan hệ đó.
+ Cuộc sống có vô vàn những khó khăn, thử thách mà con người không thể lường
trước. Chính vì vậy ta cần có những người bạn tốt để những lúc như vậy sẽ giúp đỡ
lẫn nhau mà không lo sợ sự toan tính,...
+ Tình bạn đẹp cũng sẽ giúp cho nhiều mối quan hệ xã hội trở nên tốt đẹp, chân
thành và có ý nghĩa hơn.
- Có thể nêu những mối quan hệ bạn bè tốt đẹp: Lưu Bình – Dương Lễ, Nguyễn
Khuyến – Dương Khuê...
- Phê phán những mối quan hệ bè phái, cầu lợi ích cá nhân, giả dối.
- Liên hệ bản thân: Em đã có tình bạn đẹp chưa? Tình bạn ấy giúp cho cuộc sống của
em như thế nào?
Câu 2:
1. Giới thiệu chung
- Y Phương là một trong những nhà thơ dân tộc Tày nổi tiếng của văn học Việt Nam
hiện đại. Thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy
giàu hình ảnh của con người miền núi.
- “Nói với con” là một trong những thi phẩm đặc sắc làm nên tên tuổi của ông, được
viết vào năm 1980.
- Đoạn thơ là lời khuyên của cha với con, nên sống theo những truyền thống tốt đẹp
của người đồng mình.
Cảm nhận về vẻ đẹp của người đồng mình qua bài thơ “Nói với con”(Y Phương)

2. Phân tích
- Những phẩm chất cao quý của người đồng mình:
“Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn, xa nuôi chí lớn”.
+ Dòng thơ đầu được lặp lại: “người đồng mình" là cách gọi thể hiện sự gần gũi, thân
thương như trong một gia đình. “Thương lắm” – bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với cuộc
sống nhiều vất vả, gian khó của họ.
+ Từ ngữ giàu sức gợi: “cao” “xa” vừa gợi hình ảnh miền núi cao vừa gợi điều kiện
sống khó khăn, vất vả. “Nỗi buồn” “chí lớn” thể hiện bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên
cường của người đồng mình.
=> Lời thơ thể hiện niềm tự hào về phẩm chất tốt đẹp của người miền núi.
- Tác giả khái quát lên vẻ đẹp truyền thống của người miền cao:
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục

+ Hình ảnh "người đồng mình”: vóc dáng, hình hài nhỏ bé, “thô sơ da thịt”, họ chỉ có
đôi bàn tay lao động cần cù nhưng chẳng mấy ai nhỏ bé, yếu hèn. Họ dám đương đầu
với gian lao, vất vả, họ lớn lao về ý chí, cao cả về tâm hồn.
+ Công lao vĩ đại của người đồng mình: “đục đá kê cao quê hương" - xây dựng quê
hương, tạo nên ruộng đồng, dựng lên nhà cửa, bản làng, làm nên giá trị vật chất, tinh
thần cho quê hương. “Làm phong tục - tạo nên bao nền nếp, phong tục đẹp, làm nên
bản sắc riêng của cộng đồng.
=> Lời thơ tràn đầy niềm tự hào về vẻ đẹp của người đồng mình. Nhắn nhủ con phải
biết kể thừa, phát huy những truyền thống đó.
- Từ đó, người cha khuyên con biết sống theo những truyền thống của người đồng
mình:
+ Điệp từ “sống” khởi đầu 3 dòng thơ liên tiếp, tô đậm mong ước thiết tha, mãnh liệt
của cha dành cho con.
+ Ẩn dụ “đá”, “thung” chỉ không gian sống của người miền cao, gợi lên những nhọc
nhằn, gian khó, đói nghèo. Người cha mong con "không chê” tức là biết yêu thương,
trân trọng quê hương mình.
+ So sánh "như sông”, “như suối”: lối sống hồn nhiên, trong sáng, mạnh mẽ, phóng
khoáng, vượt lên mọi gập ghềnh của cuộc đời.
+ Đối “lên thác xuống ghềnh”: cuộc sống không dễ dàng, bằng phẳng, cần dũng cảm
đối mặt, không ngại ngần.
=> Cha khuyên con tiếp nối tình cảm ân nghĩa, thủy chung với mảnh đất nơi mình
sinh ra của người đồng mình và cả lòng can đảm, ý chí kiên cường của họ.
- Để rồi, bài thơ khép lại bằng lời dặn dò vừa ân cần, vừa nghiêm khắc của người cha:
+ "Thô sơ da thịt” được nhắc lại để nhấn mạnh những khó khăn, thử thách mà con có
thể gặp trên đường đời, bởi con còn non nớt, con chưa đủ hành trang mà đời thì gập
ghềnh, gian khó.
+ Dẫu vậy, không bao giờ nhỏ bé được mà phải biết đương đầu với khó khăn, vượt
qua thách thức, không được sống yếu hèn, hẹp hòi, ích kỉ. Phải sống sao cho xứng
đáng với cha mẹ, với người đồng mình. Lời nhắn nhủ chứa đựng sự yêu thương, niềm
tin tưởng mà người cha dành cho con.
3. Tổng kết
- Nội dung:
+ Thể hiện tình cảm sâu nặng mà người cha dành cho con. Từng lời dặn dò, khuyên
nhủ đế con biết sống sao cho xứng đáng với gia đình, quê hương.
+ Bộc lộ tình yêu quê hương xứ sở và niềm tự hào về người đồng mình của tác giả.
- Nghệ thuật: Từ ngữ, hình ảnh giản dị, giàu sức gợi, in đậm lối tư duy trong sáng,
hồn nhiên, sinh động của người miền núi. Giọng điệu khi ân cần, tha thiết khi mạnh
mẽ, nghiêm khắc.

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BÌNH ĐỊNH

KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
NĂM HỌC 2018 - 2019

ĐỀ CHÍNH THỨC

Môn thi: NGỮ VĂN
Ngày thi: 12/6/2018
Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề)

Câu 1 (5,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
"Con cò ăn đêm,
Con cò xa tổ,
Cò gặp cành mềm,
Cò sợ xáo măng…"
Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!
Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng!
Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân.
Con chưa biết con cò,con vạc.
Con chưa biết những cành mềm mẹ hát,
Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân.
(Tr.45, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo Dục)
1. Đoạn thơ trên nằm trong văn bản nào, của tác giả nào?
2. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.
3. Chỉ ra và nêu tác dụng 02 biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ “Con chưa
biết con cò, con vạc – Con chưa biết những cành mềm mẹ hát”
4. Trong đoạn thơ, các câu thơ “Con cò ăn đêm - Con cò xa tổ - Cò gặp cành mềm
- Cò sợ xáo măng…” đã được tác giả vận dụng từ câu ca dao nào, hãy ghi lại câu ca
dao đó.
5. Viết một đoạn văn trình bày cảm nghĩ của em về ý nghĩa câu thơ “Ngủ yên! Ngủ
yên! Cò ơi, chớ sợ! – Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng.” (khoảng 12 – 15 dòng)
Câu 2 (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về tình yêu làng của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn "Làng"
của nhà văn Kim Lân.
________________________________________

ĐÁP ÁN:
Câu 1:

1) Đoạn thơ nằm trong văn bản Con cò của tác giả Chế Lan Viên.
2) Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
3) Biện pháp tu từ: điệp ngữ ("con chưa biết")
=> Ở tuổi ấu thơ, những đứa trẻ chưa thể hiểu và chưa cần hiểu nội dung ý nghĩa của
những lời ru nhưng chúng cảm nhận được sự vỗ về, âu yếm trong âm điệu ngọt ngào,
êm dịu. Chúng đón nhận tình yêu thương, che chở của người mẹ bằng trực giác..
Đây chính là sự khởi đầu của con đường đi vào thế giới tâm hồn mỗi con người, của
những lời ru, lời ca dao dân ca, qua đó là cả điệu hồn dân tộc.
4)
Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông có xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
5) Tham khảo những ý chính cần triển khai như sau:
+ Câu thơ “Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!” ngắt nhịp 2/2/2/2 rất đều đặn giống
như những nhịp vỗ về của người mẹ cho đứa con mau chóng vào giấc ngủ. Vì thế mà
lời thơ mang được âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của những lời ru.
+ Hình ảnh ẩn dụ "cành mềm mẹ đã sẵn tay nâng": Mẹ luôn ở bên, dang đôi cánh tay
để che chở, ấp ủ con, để cho con luôn được an toàn => nói lên tình yêu thương dạt
dào vô bờ bến mẹ dành cho con, mẹ là chỗ dựa đáng tin cậy, là lá chắn che chở suốt
đời cho con.
+ Hình ảnh con cò mang ý nghĩa tượng trưng cho lòng mẹ, cho sự dìu dắt, nâng đỡ
dịu dàng và bền bỉ của mẹ đối với con.
=> Mẹ thương con cò trong ca dao lận đận, mẹ dành cho con bao tình yêu thương,
cánh tay dịu hiền của mẹ che chở cho con, lời ru câu hát êm đềm và dòng sữa mẹ
ngọt ngào đã nuôi con khôn lớn. Tình mẹ nhân từ, rộng mở với những gì nhỏ bé đáng
thương, đáng được che chở. Lời thơ như nhịp vỗ về thể hiện sự yêu thương dào dạt
vô bờ bến.
Câu 2: Tham khảo dàn ý chi tiết dưới đây:
I ) Mở bài :
- Kim Lân là nhà văn chuyên viết về cuộc sống nông thôn.
- Một trong những tác phẩm của ông là truyện ngắn Làng với nhân vật chính là ông
Hai – một người phải rời làng của mình để đến nơi tản cư.
II) Thân bài :
* Luận điểm 1: Tình yêu làng
- Luận cứ 1: niềm tự hào, kiêu hãnh của ông hai về làng của mình

+ Dù đã rời làng nhưng ông vẫn: nghĩ về làng của mình, nghĩ về những buổi làm việc
cùng anh em, lo lắng, nhớ đến làng: “Chao ôi! Ông lão nhớ cái làng này quá”.
- Luận cứ 2: Tâm trạng của ông hai khi nghe tin làng chợ dầu đi theo giặc:
+ Cổ ông nghẹn, giọng lạc hẳn đi.
+ Lúc đầu ông không tin nên hỏi lại.
+ Ông quá xấu hổ nên đã chép miệng, đánh trống lảng: “Hà, nắng gớm, về nào…” rồi
cúi mặt mà đi.
+ Khi về nhà, ông nằm vật ra gường. Tối hôm đó thì trằn trọc không ngủ được.
+ Ông nhìn đám trẻ ngây thơ mà bị mang tiếng việt gian rối khóc.
+ Ông điểm lại mọi người trong làng nhưng thấy ai cũng có tinh thần cả nên ông vẫn
ko tin lại có ai làm điều nhục nhã ấy.
+ Lo sợ sẽ bị bà chủ nhà đuổi vì ông biết rằng nơi đây ai cũng khinh bỉ và ko chứa
chấp việt gian.
- Luận cứ 3: Tâm trạng ông hai sau khi nghe tin làng được cải chính
+ Mặt ông hai vui tươi, rạng rỡ hẳn lên.
+ Về nhà, ông chia quà cho lũ trẻ xong liền chạy khắp xóm để loan tin.
+ Ông qua nhà bác Thứ và kể chuyện làng của mình.
* Luận điểm 2: Tình yêu nước:
- Tình yêu làng là cơ sở cho tình yêu nước.
- “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!” khi nghe các tin dân ta đánh Tây từ
phòng thông tin.
- Ông và con ông đều ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh (cuộc đối thoại giữa 2 cha con gần
cuối bài).
III) Kết bài:
- Ông Hai là một người rất rất yêu làng và yêu nước của mình.
- Hai điều trên đã được tác giả làm rõ qua cách xây dựng nhiều tình huống truyện
khác nhau, miêu tả tâm lí nhân vật qua những cuộc đối thoại, độc thoại và độc thoại
nội tâm đa dạng.

ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT MÔN NGỮ VĂN SỞ GD&ĐT
BÌNH PHƯỚC NĂM HỌC 2018 - 2019
Câu 1 (1,0 điểm). Cho khổ thơ sau:
Từ hồi về thành phố
quen ánh điện,cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường
(Ngữ văn 9 Tập 1, NXB Giáo dục, 2015)
a. Khổ thơ trên được trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?
b. Nêu ngắn gọn nội dung chính của khổ thơ trên.
Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra những từ ngữ làm phương tiện liên kết và các phép liên kết
câu trong đoạn trích sau:
Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người. Nhưng trong nghệ thuật, tư
tưởng từ ngay cuộc sống hàng ngày nảy ra, và thấm trong tất cả cuộc sống.
(Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi)
Câu 3 (2,0 điểm). Có ý kiến cho rằng: Tình bạn chân chính là viên ngọc quý.
Qua ý kiến trên, hãy viết bài văn ngắn (không quá một trang giấy thi) trình bày suy
nghĩ của em về tình bạn chân chính.
Câu 4 (6,0 điểm).
Cảm nhận của em về nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi
của Lê Minh Khuê
(Phần trích Ngữ văn 9, Tập 2, NXB Giáo dục, 2015).
----Hết----

GỢI Ý THAM KHẢO:

Câu 1:
a. Khổ thơ trên được trích trong tác phẩm Ánh Trăng của nhà thơ Nguyễn Duy.
b. Nội dung chính của khổ thơ trên:
Trước đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng, bây giờ môi trường sống đã thay
đổi. Tác giả về sống với thành phố. Đời sống cũng thay đổi theo, “quen ánh điện”,
“cửa gương". “Ánh điện”, "cửa gương" tượng trưng cho cuộc sống sung túc, đầy đủ
sang trọng... dần dần "cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào bị tác giả lãng quên.
“Vầng trăng" ở đây tượng trưng cho những tháng năm gian khổ. Đó là tình bạn, tình
đồng chí được hình thành từ những năm tháng gian khổ ấy. “Trăng" bây giờ thành
“người dưng". Con người ta thường hay đổi thay như vậy. Bởi thế người đời vẫn
thường nhắc nhau: “ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”. Ở thành phố vì quen với "ánh điện,
cửa gương”, quen với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nên người đời không thèm để ý
đến“vầng trăng" từng là bạn tri kỉ một thời.
Câu 2:
"Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người. Nhưng trong nghệ thuật, tư
tưởng từ ngay cuộc sống hàng ngày nảy ra, và thấm trong tất cả cuộc sống."
Đoạn trích sử dụng phương pháp lặp từ ngữ "con người", "tư tưởng", "cuộc sống"
Câu 3:
Các em có thể dựa trên các ý sau để nêu ra bình luận của mình:
- Ngọc là một trong những vật trang sức đẹp, cứng, màu sắc óng ánh tuyệt đẹp và có
giá trị về kinh tế cũng như giá trị tồn tại.
- Còn tình bạn chân chính là tình bạn đẹp trong sáng, thủy chung. Bạn bè tâm đầu ý
hợp, yêu thương, giúp đỡ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn, chia sẻ với nhau những niềm
vui, những nỗi buồn. Những người bạn tri kỉ của nhau thường tôn trọng nhau và hiểu
nhau.
- Tình bạn là một tài sản vô giá, tuyệt vời nhất, vĩ đại nhất do con người kì công tạo
dựng trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại. Một tình bạn đẹp còn thể hiện ở niềm tin
dành cho nhau.
Và chính vì giá trị vĩnh cửu của tình bạn, ta có thể hiểu được tại sao tình bạn chân
chính là viên ngọc quý.
Câu 4: Dàn bài văn tham khảo: Cảm nhận về nhân vật Phương Định trong
truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê.

a, Mở bài
- Truyện ngắn “Ngôi sao xa xôi” của tác giả Lê Minh Khuê ngợi ca tinh thần dũng
cảm của các cô gái thanh niên xung phong, của thế hệ trẻ trong những ngày mưa bom
bão đạn.
- Cô gái Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” đó là một nữ chiến
sĩ thanh niên xung phong xinh đẹp, trong sáng, giàu tình cảm và dũng cảm, ngoan
cường.
b, Thân bài
* Hoàn cảnh sống và chiến đấu
- Xuất thân là con gái Hà Nội, Phương Định tham gia thanh niên xung phong sống
giữa khói bụi Trường Sơn và bom đạn.Công việc của chị là đo khối lượng đất lấp vào
hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom nổ. Công việc hết sức nguy hiểm.
* Giữa chiến trường khói lửa, chị vẫn hồn nhiên, ngây thơ, trẻ con đôi khi nhạy cảm,
mơ mộng, thích hát.
- Chị vẫn hay nhớ về những kỉ niệm bên mẹ trong căn gác nhỏ,nhớ về thành phố tuổi
thơ.
- Là cô gái yêu đời, hồn nhiên, giàu cá tính, hay hát hay cười một mình, hay ngắm
mình trong gương. Tự đánh giá mình là một cô gái khá, có hai bím tóc dài, tương đối
mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Mắt dài, màu nâu hay nheo lại
như chói nắng và được các anh chiến sĩ nhận xét là “có cái nhìn sao mà xa xăm”.
- Chị có cái điệu đà của một cô gái Hà Nội nhưng đáng yêu, hồn nhiên và chân thực.
Điểm xinh xắn và điệu đà được cánh pháo thủ và lái xe quan tâm, khi đó chị cảm thấy
ấm lòng và tự tin hơn.
* Bản chất anh hùng, nghiêm túc trong công việc, tinh thần dũng cảm, luôn có thần
chết rình rập.
- Phương Định là một cô gái có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc.
- Tinh thần dũng cảm trong cuộc phá bom đầy nguy hiểm, chị dũng cảm, bình tĩnh
tiến đến quả bom, đàng hoàng mà bước tới cùng xới xẻ đào đất, có lúc lưỡi xẻng
chạm trúng vào quả bom. Đó là cuộc sống thường nhật của họ.
- Có những lúc chị nghĩ đến cái chết nhưng chỉ “Mờ nhạt”, mục đích hoàn thành
nhiệm vụ luôn được chị đặt lên trên.
=> Ấy vậy mà Phương Định vẫn đùa vui trong gian khổ, coi thường thương tích, coi
rằng công việc của mình cũng có cái thú vị riêng.

* Tình cảm gắn bó với đồng chí, đồng đội.
- Yêu mến đồng đội, quan tâm, tôn trọng tất cả những người bạn, người anh em cùng
sống và chiến đấu với mình.
- Phương Định miêu tả chị Nho và chị Thao đầy trìu mến, khi miêu tả các anh bộ đội,
khi Phương Định chăm sóc chị Nho.
- Lo lắng, sốt ruột khi đồng đội lên cao điểm chưa về.
c, Kết bài
- Ngòi bút miêu tả tâm lý nhân vật sinh động, tác giả đã làm hiện lên cô nữ thanh niên
xung phong vô cùng đáng yêu, trẻ trung và đầy nhiệt huyết, hào hùng.
- Ca ngợi những người con gái Việt Nam anh hùng là những ngôi sao xa xôi mãi lung
linh, tỏa sáng.

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CAO BẰNG
ĐỀ CHÍNH THỨC

ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT
NĂM HỌC 2018 - 2019
Môn: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề
(Đề thi có 01 trang)

Câu 1: (2,0 điểm)
Xác định thành phần khởi ngữ trong đoạn trích sau và nêu dấu hiệu nhận biết thành
phần đó.
Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không
ghìm nổi xúc động.
(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà, Ngữ văn 9, tập 1)
Câu 2: (3,0 điểm)
Đọc hai câu thơ sau và trả lời câu hỏi:
"Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con"
a) Hai câu thơ được trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?
b) Cảm nhận của em về nội dung hai câu thơ trên.

Câu 3: (5,0 điểm)
Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê
Minh Khuê (Ngữ văn 9, tập 2).
HẾT

ĐÁP ÁN ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT MÔN NGỮ VĂN
SỞ GD&ĐT CAO BẰNG NĂM HỌC 2018 - 2019
Câu 1:
Thành phần khởi ngữ là từ anh trong "Còn anh"
Dấu hiệu nhận biết: Từ "anh" đứng trước chủ ngữ và có nhiệm vụ nhấn mạnh về cảm
nhận của "anh" - người cha khi gặp được con gái.
Câu 2:
a. Trong bài thơ “Nói với con” của Y Phương
b. Nêu cảm nhận:
Nhận xét: Đây là hai câu thơ mang ý nghĩa đối nhau:
“Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”
Hình ảnh cụ thể “thô sơ da thịt” cho ta thấy sự giản dị, mộc mạc của người đồng
mình. Giọng thơ khẳng định “chẳng mấy ai nhỏ bé” thể hiện niềm tự hào về lẽ sống
cao đẹp và tâm hồn phong phú của dân tộc. “Người đồng mình” không ai chịu tự bó
mình trong cuộc đời nhỏ nhoi, tầm thường mà ngược lại ai cũng có ước mơ, hoài bão
sống cuộc đời rộng lớn, ai cũng có khát vọng vươn lên.
Câu 3: Dàn ý tham khảo:
a, Mở bài
- Truyện ngắn “Ngôi sao xa xôi” của tác giả Lê Minh Khuê ngợi ca tinh thần dũng
cảm của các cô gái thanh niên xung phong, của thế hệ trẻ trong những ngày mưa bom
bão đạn.
- Cô gái Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” đó là một nữ chiến
sĩ thanh niên xung phong xinh đẹp, trong sáng, giàu tình cảm và dũng cảm, ngoan
cường.

b, Thân bài
* Hoàn cảnh sống và chiến đấu
- Xuất thân là con gái Hà Nội, Phương Định tham gia thanh niên xung phong sống
giữa khói bụi Trường Sơn và bom đạn. Công việc của chị là đo khối lượng đất lấp
vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom nổ. Công việc hết sức nguy
hiểm.
* Giữa chiến trường khói lửa, chị vẫn hồn nhiên, ngây thơ, trẻ con đôi khi nhạy cảm,
mơ mộng, thích hát.
- Chị vẫn hay nhớ về những kỉ niệm bên mẹ trong căn gác nhỏ,nhớ về thành phố tuổi
thơ.
- Là cô gái yêu đời, hồn nhiên, giàu cá tính, hay hát hay cười một mình, hay ngắm
mình trong gương. Tự đánh giá mình là một cô gái khá, có hai bím tóc dài, tương đối
mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Mắt dài, màu nâu hay nheo lại
như chói nắng và được các anh chiến sĩ nhận xét là “có cái nhìn sao mà xa xăm”.
- Chị có cái điệu đà của một cô gái Hà Nội nhưng đáng yêu, hồn nhiên và chân thực.
Điểm xinh xắn và điệu đà được cánh pháo thủ và lái xe quan tâm, khi đó chị cảm thấy
ấm lòng và tự tin hơn.
* Bản chất anh hùng, nghiêm túc trong công việc, tinh thần dũng cảm, luôn có thần
chết rình rập.
- Phương Định là một cô gái có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc.
- Tinh thần dũng cảm trong cuộc phá bom đầy nguy hiểm, chị dũng cảm, bình tĩnh
tiến đến quả bom, đàng hoàng mà bước tới cùng xới xẻ đào đất, có lúc lưỡi xẻng
chạm trúng vào quả bom. Đó là cuộc sống thường nhật của họ.
- Có những lúc chị nghĩ đến cái chết nhưng chỉ “Mờ nhạt”, mục đích hoàn thành
nhiệm vụ luôn được chị đặt lên trên.
=> Ấy vậy mà Phương Định vẫn đùa vui trong gian khổ, coi thường thương tích, coi
rằng công việc của mình cũng có cái thú vị riêng.
* Tình cảm gắn bó với đồng chí, đồng đội.
- Yêu mến đồng đội, quan tâm, tôn trọng tất cả những người bạn, người anh em cùng
sống và chiến đấu với mình.
- Phương Định miêu tả chị Nho và chị Thao đầy trìu mến, khi miêu tả các anh bộ đội,
khi Phương Định chăm sóc chị Nho.

- Lo lắng, sốt ruột khi đồng đội lên cao điểm chưa về.
c, Kết bài
- Ngòi bút miêu tả tâm lý nhân vật sinh động, tác giả đã làm hiện lên cô nữ thanh niên
xung phong vô cùng đáng yêu, trẻ trung và đầy nhiệt huyết, hào hùng.
- Ca ngợi những người con gái Việt Nam anh hùng là những ngôi sao xa xôi mãi lung
linh, tỏa sáng.

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO

KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10
THPT NĂM 2018 THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút
(Không kể thời gian giao đề)

ĐỀ CHÍNH THỨC

Câu 1. (2,0 điểm)
Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc,
của tre,...
“Tre già măng mọc". Măng mọc trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam, lứa măng non của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Các em, các em rồi đây lớn lên, sẽ quen dần với sắt, thép và xi măng cốt sắt.
Nhưng, nứa, tre sẽ còn mãi với các em, còn mãi với dân tộc Việt Nam,...
(Trích Cây tre Việt Nam, Thép Mới, Ngữ văn 6, Tập hai)
a) Đọc đoạn trích trên, hãy xác định:
- Từ láy. (0,5 điểm)
- Thành ngữ. (0,5 điểm)
- Khởi ngữ. (0,5 điểm)
b) Từ măng trong lứa măng non được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? (0,5 điểm)
Câu 2. (3,0 điểm)
"Con chim sẻ nhỏ chết rồi
Chết trong đêm cơn bão về gần sáng.
Đêm ấy tôi nằm trong chăn nghe cánh chim đập cửa
Sự ấm áp gối chăn đã giữ chặt tôi
Và tôi ngủ ngon lành đến lúc bão vơi."
(Trích Tiếng vọng, Nguyễn Quang Thiều, Tiếng Việt 5, Tập một)
Trong đoạn thơ trên, tác giả nói về sự việc gì? Em hãy viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn
trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự việc đó.
Câu 3. (5,0 điểm) Cảm nhận của em về đoạn trích sau:
- Trời ơi, chỉ còn có năm phút!

Chính là anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ. Anh chạy ra nhà
phía sau, rồi trở vào liền, tay cầm một cái làn. Nhà họa sĩ tặc lưỡi đứng dậy. Cô gái cũng
đứng lên, đặt lại chiếc ghế, thong thả đi đến chỗ bác già.
- Ô! Cô còn quên chiếc mùi soa đây này!
Anh thanh niên vừa vào, kêu lên. Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay
còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Cô kĩ sư mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn
và quay vội đi.
- Chào anh. - Đến bậu cửa, bỗng nhà họa sĩ già quay lại chụp lấy tay người thanh niên lắc
mạnh. - Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại. Tôi ở với anh ít hôm được chứ?
Đến lượt cô gái từ biệt. Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như người ta cho
nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay. Cô nhìn thẳng vào mắt anh - những người con gái
sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy.
- Chào anh.
Lần đầu, chính là anh thanh niên quay mặt đi. Anh ấn cái làn vào tay bác già và nói vội vã:
- Cái này để ăn trưa cho bác, cho cô và bác lái xe. Cháu có bao nhiêu là trứng, ăn không
xuể. Cháu không tiễn bác và cô ra xe được, vì gần tới giờ “ốp” rồi. Thôi chào bác, chào cô.
Bác sẽ trở lại nhé.
Hai ông con theo bậc cấp bước xuống đồi, đến mặt đường nhìn lên, không thấy người con
trai đứng đấy nữa. Anh ta đã vào nhà trong. Ông xách cái làn trứng, cô ôm bó hoa to. Lúc
bấy giờ, nắng đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực như một bó đuốc lớn.
Nắng chiếu làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làm cho cô gái cảm thấy mình rực rỡ theo.
Hai người lững thững đi về phía chiếc xe đỗ, im lặng rất lâu. Bỗng bác già nhìn chiếc đồng
hồ nói một mình:
- Thanh niên bây giờ lạ thật! Các anh chị cứ như con bướm. Mà đã mười một giờ, đến giờ
“ốp” đâu? Tại sao anh ta không tiễn mình đến tận xe nhỉ?
Cô gái liếc nhìn bác già một cái rất nhanh, tự nhiên hồi hộp, nhưng vẫn im lặng.
(Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, Tập một)
- Hết –

ĐÁP ÁN ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 MÔN VĂN
Câu 1. (2,0 điểm)