Cộng đồng chia sẻ tri thức Doc24.vn

20 tác phẩm thi vào 10

d41d8cd98f00b204e9800998ecf8427e
Gửi bởi: Thành Đạt vào ngày 2020-09-30 06:19:36 || Kiểu file: DOC Lượt xem: 283 | Lượt Download: 2 | File size: 1.652736 Mb

Nội dung tài liệu Xem trước tài liệu

Link tài liệu:
Tải xuống

Các tài liệu liên quan

Thông tin tài liệu

20 TÁC PHẨM CHUYÊN THI VÀO LỚP 10

PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

(Lê Anh Trà)

I - GỢI Ý

1. Xuất xứ:

Phong cách Hồ Chí Minh là một phần bài viết "Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ

đại gắn với cái giản dị" của tác giả Lê Anh Trà, trích trong cuốn sách "Hồ Chí Minh

và văn hoá Việt Nam", Viện Văn hoá xuất bản, Hà Nội, 1990.

2. Tác phẩm:

Mặc dù am tường và ảnh hưởng nền văn hoá nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới

nhưng phong cách của Hồ Chí Minh vô cùng giản dị, điều đó được thể hiện ngay

trong đời sống sinh hoạt của Người: nơi ở chỉ là một ngôi nhà sàn nhỏ bé với những

đồ đạc mộc mạc, trang phục đơn sơ, ăn uống đạm bạc.

3. Tóm tắt:

Viết về phong cách Hồ Chí Minh, tác giả đưa ra luận điểm then chốt: Phong

cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hoà giữa tính dân tộc và tính nhân loại, truyền

thống và hiện đại, giữa vĩ đại và giản dị.

Để làm sáng tỏ luận điểm này, tác giả đã vận dụng một hệ thống lập luận chặt

chẽ, với những dẫn chứng xác thực, giàu sức thuyết phục về quá trình hoạt động cách

mạng, khả năng sử dụng ngôn ngữ và sự giản dị, thanh cao trong cuộc sống sinh hoạt

hằng ngày của Bác.

II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

Trong bài thơ Người đi tìm hình của nước, Chế Lan Viên viết:

Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê

Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá...

Đó là những câu thơ viết về Bác trong thời gian đầu của cuộc hành trình cứu nước

gian khổ. Câu thơ vừa mang nghĩa tả thực vừa có ý khái quát sâu xa. Sự đối lập giữa

một viên gạch hồng giản dị với cả một mùa đông băng giá đã phần nào nói lên sức

mạnh và phong thái của vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại. Sau này, khi đã trở về Tổ quốc,

sống giữa đồng bào, đồng chí, dường như chúng ta vẫn gặp đã con người đã từng bôn

ba khắp thế giới ấy:

Nhớ Người những sáng tinh sương

Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Nhớ chân Người bước lên đèo

Người đi, rừng núi trông theo bóng Người.

(Việt Bắc - Tố Hữu)

Còn nhiều, rất nhiều những bài thơ, bài văn viết về cuộc đời hoạt động cũng như

tình cảm của Bác đối với đất nước, nhân dân. Điểm chung nổi bật trong những tác

phẩm ấy là phong thái ung dung, thanh thản của một người luôn biết cách làm chủ

cuộc đời, là phong cách sống rất riêng: phong cách Hồ Chí Minh.



Với một hệ thống lập luận chặt chẽ và những dẫn chứng vừa cụ thể vừa giàu sức

thuyết phục, bài nghị luận xã hội của Lê Anh Trà đã chỉ ra sự thống nhất, kết hợp hài

hoà của các yếu tố: dân tộc và nhân loại, truyền thống và hiện đại để làm nên sự

thống nhất giữa sự vĩ đại và giản dị trong phong cách của Người.

Cách gợi mở, dẫn dắt vấn đề của tác giả rất tự nhiên và hiệu quả. Để lí giải sự

thống nhất giữa dân tộc và nhân loại, tác giả đã dẫn ra cuộc đời hoạt động đầy truân

chuyên, tiếp xúc với văn hoá nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới... Kết luận được

đưa ra sau đó hoàn toàn hợp lô gích: "Có thể nói ít có vị lãnh tụ nào lại am hiểu nhiều

về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hoá thế giới sâu sắc như Chủ tịch Hồ Chí

Minh... Người cũng chịu ảnh hưởng tất cả các nền văn hoá, đã tiếp thu cái đẹp và cái

hay...". Đó là những căn cứ xác đáng để lí giải về tính nhân loại, tính hiện đại  một

vế của sự hoà hợp, thống nhất trong phong cách Hồ Chí Minh.

Ngay sau đó, tác giả lập luận: "Nhưng điều kì lạ là tất cả những ảnh hưởng quốc

tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hoá dân tộc không gì lay chuyển được ở Người, để

trở thành một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất

phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại..".

Đây có thể coi là lập luận quan trọng nhất trong bài nhằm làm sáng tỏ luận điểm

chính nói trên. Trong thực tế, các yếu tố "dân tộc" và "nhân loại", "truyền thống" và

"hiện đại" luôn có xu hướng loại trừ nhau. Yếu tố này trội lên sẽ lấn át yếu tố kia. Sự kết

hợp hài hoà của các yếu tố mang nhiều nét đối lập ấy trong một phong cách quả là điều

kì diệu, chỉ có thể thực hiện được bởi một yếu tố vượt lên trên tất cả: đó là bản lĩnh, ý chí

của một người chiến sĩ cộng sản, là tình cảm cách mạng được nung nấu bởi lòng yêu

nước, thương dân vô bờ bến và tinh thần sẵn sàng quên mình vì sự nghiệp chung. Hồ

Chí Minh là người hội tụ đầy đủ những phẩm chất đó.

Để củng cố cho lập luận của mình, tác giả đưa ra hàng loạt dẫn chứng. Những chi

tiết hết sức cụ thể, phổ biến: đó là ngôi nhà sàn, là chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp đã

từng đi vào thơ ca như một huyền thoại, là cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, là tình

cảm thắm thiết đối với đồng bào, nhất là với các em thiếu nhi... cũng đã trở thành

huyền thoại trong lòng nhân dân Việt Nam. Với những dẫn chứng sống động ấy, thủ

pháp liệt kê được sử dụng ở đây không những không gây nhàm chán, đơn điệu mà

còn có tác dụng thuyết phục hơn hẳn những lời thuyết lí dài dòng.

Trong phần cuối bài, tác giả đã khiến cho bài viết thêm sâu sắc bằng cách kết nối

giữa quá khứ với hiện tại. Từ nếp sống "giản dị và thanh đạm" của Bác, tác giả liên

hệ đến Nguyễn Trãi, đến Nguyễn Bỉnh Khiêm  các vị "hiền triết" của non sông đất

Việt:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao...

Đây cũng là một yếu tố trong hệ thống lập luận của tác giả. Dẫu các yếu tố so

sánh không thật tương đồng (Bác là một chiến sĩ cách mạng, là Chủ tịch nước trong

khi Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm được nói đến trong thời gian ở ẩn, xa lánh

cuộc sống sôi động bên ngoài) nhưng vẫn được vận dụng hợp lí nhờ cách lập luận có

chiều sâu: "Nếp sống giản dị và thanh đạm của Bác Hồ, cũng như các vị danh nho

xưa, hoàn toàn không phải là một cách tự thần thánh hoá, tự làm cho khác đời, hơn

đời, mà đây là lối sống thanh cao, một cách di dưỡng tinh thần, một quan niệm thẩm

mĩ về cuộc sống, có khả năng đem lại hạnh phúc thanh cao cho tâm hồn và thể xác".

2



Bài văn nghị luận này giúp chúng ta hiểu sâu thêm về phong cách của Bác Hồ  vị

lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hoá của thế giới.

ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HOÀ BÌNH

(G. G. Mác-két)

I - GỢI Ý

1. Tác giả:

Nhà văn Cô-lôm-bi-a G.G. Mác-két (Gabriel Garcia Marquez) sinh năm 1928.

Năm 1936, tốt nghiệp tú tài, ông vào học ngành Luật tại trường đại học Tổng hợp Bôgô-ta và viết những truyện ngắn đầu tay.

Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két là tác giả của nhiều tiểu thuyết theo khuynh hướng

hiện thực huyền ảo nổi tiếng. Ông từng được nhận giải thưởng Nô-ben văn học năm

1982.

G. G. Mác-két có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, nhưng nổi tiếng nhất là cuốn

Trăm năm cô đơn (1967) - tiểu thuyết được tặng Giải Chianchianô của I-ta-li-a, được

Pháp công nhận là cuốn sách nước ngoài hay nhất trong năm, được giới phê bình văn

học ở Mĩ xếp là một trong 12 cuốn sách hay nhất trong những năm sáu mươi của thế

kỉ XX.

Toàn bộ sáng tác của G. G. Mác-két xoay quanh trục chủ đề chính: sự cô đơn mặt trái của tình đoàn kết, lòng thương yêu giữa con người.

2. Tác phẩm:

Văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình trình bày những ý kiến của tác giả

xung quanh hiểm hoạ hạt nhân, đồng thời kêu gọi thế giới nỗ lực hành động để ngăn

chặn, đẩy lùi nguy cơ về một thảm hoạ có thể huỷ diệt toàn bộ sự sống trên trái đất.

3. Tóm tắt:

Đây là một bài văn nghị luận xã hội. Tác giả nêu ra hai luận điểm cơ bản có liên

quan mật thiết với nhau:

 Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe doạ cuộc sống trên trái đất.

 Nhiệm vụ cấp bách của nhân loại là phải ngăn chặn nguy cơ đó, đồng thời đấu

tranh cho một thế giới hoà bình.

Để làm sáng tỏ hai luận điểm trên, tác giả đã đưa ra một hệ thống lập luận chặt

chẽ, đặc biệt là những dẫn chứng rất cụ thể, xác thực, giàu sức thuyết phục.

II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà trình độ khoa học kỹ thuật đang phát

triển với một tốc độ đáng kinh ngạc: những thành tựu của ngày hôm nay, rất có thể

chỉ ngày mai đã thành lạc hậu. Đã từng có những ý kiến bi quan cho rằng: trong khi

của cải xã hội tăng theo cấp số cộng thì dân số trái đất lại tăng theo cấp số nhân, con

người sẽ ngày càng đói khổ. Tuy nhiên, nhờ có sự phát triển như vũ bão của khoa học

kĩ thuật, của cải xã hội ngày càng dồi dào hơn, số người đói nghèo ngày càng giảm

đi...

Đó là những yếu tố tích cực trong sự phát triển của khoa học mà phần lớn chúng

3



ta đều nhận thấy. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển đó thì hầu như rất ít người có

thể nhận thức được. Bài viết của nhà văn Gác-xi-a Mác-két đã gióng lên một hồi

chuông cảnh tỉnh nhân loại trước nguy cơ đang hiện hữu của một cuộc chiến tranh hạt

nhân thảm khốc có khả năng huỷ diệt toàn bộ sự sống trên hành tinh xanh mà phương

tiện của cuộc chiến tranh ấy  mỉa mai thay  lại là hệ quả của sự phát triển khoa học

như vũ bão kia.

Vấn đề được khơi gợi hết sức ấn tượng: "Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8 8 - 1986, hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân đã được bố trí khắp hành tinh. Nói nôm na ra,

điều đó có nghĩa là mỗi người không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn

thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải một lần mà là

mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên trái Đất".

Sức tác động của đoạn văn này chủ yếu bởi những con số thống kê cụ thể: 50.000

đầu đạn hạt nhân; 4 tấn thuốc nổ; không phải một lần mà là mười hai lần... Thông

điệp về nguy cơ huỷ diệt sự sống được truyền tải với một khả năng tác động mạnh mẽ

vào tư duy bạn đọc. Không chỉ có thế, trong những câu văn tiếp theo, tác giả còn mở

rộng phạm vi ra toàn hệ Mặt Trời, dẫn cả điển tích trong thần thoại Hi Lạp nhằm làm

tăng sức thuyết phục.

Trong phần tiếp theo, tác giả đưa ra hàng loạt so sánh nhằm thể hiện sự bất hợp lí

trong xu hướng phát triển của khoa học hiện đại: tỉ lệ phục vụ cho việc nâng cao đời

sống nhân loại quá thấp trong khi tỉ lệ phục vụ cho chiến tranh lại quá cao. Vẫn là

những con số thống kê đầy sức nặng:

 100 tỉ đô la cho trẻ em nghèo khổ tương đương với 100 máy bay ném bom chiến

lược B.1B hoặc dưới 7.000 tên lửa vượt đại châu;

 Giá 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân đủ để thực hiện chương trình

phòng bệnh trong cùng 14 năm, bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét;

 Hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xoá nạn mù chữ cho toàn

thế giới...

Đó là những con số vượt lên trên cả những giá trị thống kê bởi nó còn có giá trị tố

cáo bởi điều nghịch lí là trong khi các chương trình phục vụ chiến tranh đều đã hoặc

chắc chắn trở thành hiện thực thì các chương trình cứu trợ trẻ em nghèo hay xoá nạn mù

chữ chỉ là sự tính toán giả thiết và không biết đến bao giờ mới trở thành hiện thực.

Trong khía cạnh này thì rõ ràng là khoa học đang phát triển ngược lại những giá trị

nhân văn mà từ bao đời nay con người vẫn hằng xây dựng.

Vẫn bằng phép suy luận lô gích và những con số thống kê nóng bỏng, tác giả đẩy

mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm: sự phát triển vũ khí hạt nhân không chỉ đi ngược lại lí

trí của con người mà còn đi ngược lại lí trí tự nhiên. Sự đối lập khủng khiếp giữa 380

triệu năm, 180 triệu năm, bốn kỷ địa chất (hàng chục triệu năm) với khoảng thời gian

đủ để "bấm nút một cái" đã phơi bày toàn bộ tính chất phi lí cũng như sự nguy hiểm

của chương trình vũ khí hạt nhân mà các nước giàu có đang theo đuổi. Bằng cách ấy,

rất có thể con người đang phủ nhận, thậm chí xoá bỏ toàn bộ quá trình tiến hoá của tự

nhiên và xã hội từ hàng trăm triệu năm qua. Đó không chỉ là sự phê phán mà còn là

sự kết tội.

Đó là toàn bộ luận điểm thứ nhất, chiếm đến hơn ba phần tư dung lượng của bài

viết này. ở luận điểm thứ hai, thủ pháp tương phản đã được vận dụng triệt để. Ngay

sau lời kết tội trên đây, tác giả kêu gọi:

4



"Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem lại tiếng nói của chúng ta

tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và

một cuộc sống hoà bình, công bằng. Nhưng dù cho tai hoạ xảy ra thì sự có mặt của

chúng ta ở đây cũng không phải là vô ích".

Đó không hẳn là một lời kêu gọi thống thiết và mạnh mẽ, tuy nhiên không vì thế

mà nó kém sức thuyết phục. Chính dư âm của luận điểm thứ nhất đã tạo nên hiệu quả

cho luận điểm thứ hai này. Những lời kêu gọi của tác giả gần như những lời tâm sự

nhưng thấm thía tận đáy lòng. Chưa hết, tác giả còn tưởng tượng ra tấn thảm kịch hạt

nhân và đề nghị mở "một ngân hàng lưu trữ trí nhớ". Lời đề nghị tưởng như rất không

thực ấy lại trở nên rất thực trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra

bất cứ lúc nào.

Trong luận điểm thứ hai này, tác giả hầu như không sử dụng một dẫn chứng hay

một con số thống kê nào. Nhưng cách dẫn dắt vấn đề, lời tâm sự tha thiết mang âm

điệu xót xa của tác giả đã tác động mạnh đến lương tri nhân loại tiến bộ. Tác giả

không chỉ ra thế lực nào đã vận dụng những phát minh khoa học vào mục đích xấu xa

bởi đó dường như không phải là mục đích chính của bài viết này nhưng ông đã giúp

nhân loại nhận thức được nguy cơ chiến tranh hạt nhân là hoàn toàn có thực và ngăn

chặn nguy cơ đó, đồng thời đấu tranh cho một thế giới hoà bình sẽ là nhiệm vụ quan

trọng nhất của nhân loại trong thế kỉ XXI.



TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ SỰ SỐNG CÒN,

QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM

I - GỢI Ý

1. Xuất xứ:

Văn bản Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát trỉen của

trẻ em được trích từ Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em họp tại Liên

hợp quốc ngày 30-9-1990, in trong cuốn "Việt Nam và các văn kiện quốc tế về quyền

trẻ em", NXB Chính trị quốc gia - Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam,

1997.

2. Tóm tắt:

Tuy chỉ là một trích đoạn nhưng bài viết này có thể coi là một văn bản khá hoàn

chỉnh về hiện thực và tương lai của trẻ em cũng như những nhiệm vụ cấp thiết mà

cộng đồng quốc tế phải thực hiện nhằm đảm bảo cho trẻ em có được một tương lai

tươi sáng.

Ngoài hai ý mở đầu, bài viết được chia thành ba phần rất rõ ràng:

Phần một (sự thách thức): thực trạng cuộc sống khốn khổ của rất nhiều trẻ em

trên thế giới  những thách thức đặt ra với các nhà lãnh đạo chính trị.

Phần hai (cơ hội): những điều kiện thuận lợi đối với việc bảo vệ và phát triển

cuộc sống, đảm bảo tương lai cho trẻ em.

5



Phần ba (nhiệm vụ): những nhiệm vụ cụ thể, cấp thiết cần thực hiện nhằm bảo vệ

và cải thiện đời sống, vì tương lai của trẻ em.

II- GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy:

Trẻ em như búp trên cành

Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan.

Trẻ em là tương lai đất nước. Suy rộng ra, sự vận động và phát triển của thế giới

trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào cuộc sống và sự phát triển của trẻ em hôm

nay. Càng ngày, vấn đề đó càng được nhận thức rõ ràng hơn trên phương diện quốc

tế. Năm 1990, Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em đã được tổ chức. Tại đó, các nhà

lãnh đạo các nước đã đưa ra bản Tuyên bố về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của

trẻ em. Bài viết này đã trích dẫn những ý cơ bản nhất của bản Tuyên bố đó.

Ngay trong phần mở đầu, bản Tuyên bố đã khẳng định những đặc điểm cũng như

những quyền lợi cơ bản của trẻ em. Từ đó, các tác giả bắt vào mạch chính với những

ý kiến hết sức cơ bản và lô gích.

Trong phần thứ nhất, tác giả nêu ra hàng loạt vấn đề có về thực trạng cũng như sự

vi phạm nghiêm trọng quyền của trẻ em. Đó là sự bóc lột, đày đoạ một cách tàn nhẫn,

là cuộc sống khốn khổ của trẻ em ở các nước nghèo. Trong hoàn cảnh ấy, những con

số thống kê rất có sức nặng ("Mỗi ngày, có hàng triệu trẻ em phải chịu đựng những

thảm hoạ của đói nghèo và khủng hoảng kinh tế, của nạn đói, tình trạng vô gia cư,

dịch bệnh...; Mỗi ngày có tới 40000 trẻ em chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật,...").

Những con số biết nói ấy thực sự là lời cảnh báo đối với nhân loại.

Với nội dung như vậy nhưng các tác giả lại đặt tên cho phần này là Sự thách thức.

Mới đọc, có cảm tưởng giữa đề mục và nội dung không thật thống nhất. Tuy nhiên,

đó lại là yếu tố liên kết giữa các phần trong văn bản này. Tác giả đã sử dụng phương

pháp "đòn bẩy": hiện thực càng được chỉ rõ bao nhiêu thì những vấn đề đặt ra sau đó

lại càng được quan tâm bấy nhiêu.

Trong phần tiếp theo, các tác giả trình bày những điều kiện thích hợp (hay những

cơ hội) cho những hoạt động vì quyền của trẻ em. Đó là những phương tiện và kiến

thức, là sự hợp tác, nhất trí của cộng đồng thế giới cùng sự tăng trưởng kinh tế, sự

biến đổi của xã hội... trong đó các tác giả nhấn mạnh đến nhân tố con người. Bằng

những hoạt động tích cực, con người hoàn toàn có thể làm chủ được tương lai của

mình khi quan tâm thoả đáng đến các thế hệ tương lai.

Trong phần Nhiệm vụ, các tác giả nêu ra tám nhiệm vụ hết sức cơ bản và cấp

thiết. Có thể tóm tắt lại như sau:

1. Tăng cường sức khoẻ và chế độ dinh dưỡng của trẻ em.

2. Quan tâm săn sóc nhiều hơn đến trẻ em bị tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh sống đặc

biệt khó khăn.

3. Đảm bảo quyền bình đẳng nam - nữ (đối xử bình đẳng với các em gái).

4. Bảo đảm cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở.

5. Cần nhấn mạnh trách nhiệm kế hoạch hoá gia đình.

6. Cần giúp trẻ em nhận thức được giá trị của bản thân.

6



7. Bảo đảm sự tăng trưởng, phát triển đều đặn nền kinh tế.

8. Cần có sự hợp tác quốc tế để thực hiện các nhiệm vụ cấp bách trên đây.

Với những ý hết sức ngắn gọn, được trình bày rõ ràng, dễ hiểu, bản Tuyên bố

này không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi người, mỗi thành viên trong cộng đồng quốc

tế mà còn có tác dụng kêu gọi, tập hợp mọi người, mọi quốc gia cùng hành động vì

cuộc sống và sự phát triển của trẻ em, vì tương lai của chính loài người.



CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

(Trích Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ)

I- GỢI Ý

1. Tác giả:

Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), người huyện Trường Tân, nay là huyện

Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI, là thời kì triều đình nhà

Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành

quyền bính, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài. Ông học rộng, tài cao, nhưng chỉ

làm quan có một năm rồi xin nghỉ.

2. Tác phẩm:

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ là Truyền kì mạn lục, gồm 20 truyện viết

bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác

giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả.

Chuyện người con gái Nam Xương thể hiện niềm cảm thương của tác giả đối với

số phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của của người phụ nữ Việt

Nam dưới chế độ phong kiến.

... Về mặt nội dung, Truyền kì mạn lục chứa đựng nội dung phản ánh hiện thực và

giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm cũng đồng thời cho thấy những phức tạp trong tư

tưởng nhà văn.

Nguyễn Dữ phản ánh hiện thực xã hội thời đại mình qua thể truyền kì nên tác giả

thường lấy xưa để nói nay, lấy cái kì để nói cái thực. Đọc Truyền kì mạn lục nếu biết

bóc tách ra cái vỏ kì ảo sẽ thấy cái cốt lõi hiện thực, phủi đi lớp sương khói thời gian

xưa cũ, sẽ thấy bộ mặt xã hội đương thời. Đời sống xã hội dưới ngòi bút truyền kì của

nhà văn hiện lên khá toàn diện cuộc sống người dân từ bộ máy nhà nước với quan

tham lại nhũng đến những quan hệ với nền đạo đức đồi phong bại tục.

Nếu khi phê phán, tố cáo hiện thực xã hội, Nguyễn Dữ chủ yếu đứng trên lập

trường đạo đức thì khi phản ánh số phận con người, ông lại xuất phát tự lập trường

nhân văn. Chính vì vậy, Truyền kì mạn lục chứa đựng một nội dung nhân đạo sâu sắc.

Về phương diện này, Nguyễn Dữ là một trong những nhà văn mở đầu cho chủ nghĩa

nhân văn trong văn học trung đại Việt Nam. Truyền kì mạn lục phản ánh số phận con

7



người chủ yếu qua số phận của người phụ nữ, đồng thời hướng tới những giải pháp

xã hội, nhưng vẫn bế tắc trên đường đi tìm hạnh phúc cho con người". (Từ điển văn

học - NXB Thế giới, 2005).

3. Thể loại:

Truyện truyền kì là những truyện kì lạ được lưu truyền. Truyền kì mạn lục của

Nguyễn Dữ là sự ghi chép tản mạn về những truyện ấy. Tác phẩm được viết bằng chữ

Hán, khai thác các truyện cổ dân gian, các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam.

Nhân vật chính trong Truyền kì mạn lục phần lớn là những người phụ nữ đức hạnh

nhưng lại bị các thế lực phong kiến, lễ giáo khắc nghiệt xô đẩy vào những cảnh ngộ

éo le, oan khuất. Bên cạnh đó còn có kiểu nhân vật là những người trí thức có tâm

huyết nhưng bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình vào vòng danh lợi chật hẹp.

4. Tóm tắt:

Câu chuyện kể về Vũ Thị Thiết - người con gái quê ở Nam Xương, tính tình nết

na thuỳ mị. Lấy chồng là Trương Sinh chưa được bao lâu thì chàng phải đi lính, nàng

ở nhà phụng dưỡng mẹ già và nuôi con nhỏ. Để dỗ con, nàng thường chỉ bóng mình

trên tường và bảo đó là cha nó. Khi Trương Sinh về thì con đã biết nói. Đứa bé ngây

thơ kể với Trương Sinh về người đêm đêm vẫn đến nhà. Trương Sinh sẵn có tính

ghen, mắng nhiếc và đuổi vợ đi. Phẫn uất, Vũ Thị Thiết chạy ra bến Hoàng Giang tự

vẫn. Khi hiểu ra nỗi oan của vợ thì đã muộn, Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng.

Cũng có thể tạm chia truyện thành hai phần, lấy mốc là việc Vũ Nương nhảy

xuống sông tự tử:

- Đoạn 1 (từ đầu đến "và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ"): bị chồng nghi oan.

Vũ Nương tự vẫn.

- Đoạn 2 (còn lại): nỗi oan được giải, Vũ Nương được cứu sống nhưng vẫn không

trở về đoàn tụ cùng gia đình.

II- GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

Có lẽ người Việt Nam chúng ta ai cũng hiểu và biết cách sử dụng cụm từ "oan

Thị Kính"  một nỗi oan khuất mà người bị oan không có cách gì để thanh minh. Thị

Kính chỉ được giải oan nhờ Đức Phật hay nói đúng hơn là nhờ tấm lòng bao dung độ

lượng, luôn hiểu thấu và sẵn sàng bênh vực cho những con người bé nhỏ, thua thiệt,

oan ức trong xã hội của những nghệ sĩ dân gian.

Người phụ nữ trong Chuyện người con gái Nam Xương không có được cái may

mắn như Thị Kính mặc dù nỗi oan của nàng cũng không kém gì, thậm chí kết cục còn

bi thảm hơn. Thị Kính được lên toà sen trong khi người phụ nữ này phải tìm đến cái

chết để chứng tỏ sự trong sạch của mình. Mặc dù vậy, nhân vật này vẫn không được

nhiều người biết đến, có lẽ bởi phương thức kể. Ai cũng biết đến Thị Kính vì câu

chuyện về nàng được thể hiện qua một vở chèo  một loại hình nghệ thuật dân gian

quen thuộc, được nhân dân ưa thích từ xa xưa, trong khi Người con gái Nam Xương

là một tác phẩm văn học viết thời trung đại (trong điều kiện xã hội phong kiến, nhân

dân lao động hầu hết đều không biết chữ). Ngày nay đọc lại tác phẩm này, chúng ta

có thể hiểu thêm rất nhiều điều về thân phận những người phụ nữ trong xã hội phong

kiến qua nghệ thuật dựng truyện, dẫn dắt mạch truyện cũng như nghệ thuật xây dựng

nhân vật, cách thức kết hợp các phương thức tự sự, trữ tình và kịch của tác giả.

Trong phần đầu của truyện, trước khi biến cố lớn xảy ra, tác giả đã dành khá

8



nhiều lời để ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ, từ nhan sắc cho đến đức hạnh. Hầu

như không có sự kiện nào thật đặc biệt ngoài những chi tiết (tiễn chồng đi lính, đối xử

với mẹ chồng...) chứng tỏ nàng là một người con gái đẹp người đẹp nết, một người

vợ hiền, một người con dâu hiếu thảo. Chỉ có một chi tiết ở đoạn mở đầu: "Song

Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức". Bạn đọc có thể dễ bỏ qua

chi tiết này vì với phẩm hạnh của nàng, dẫu Trương Sinh có đa nghi đến đâu cũng

khó có thể xảy ra chuyện gì được.

Nhưng đó lại là một chi tiết rất quan trọng, thể hiện tài kể chuyện của tác giả. Chi

tiết nhỏ được cài rất khéo đó chính là sợi dây nối giữa phần trước và phần sau, xâu

chuỗi các yếu tố trong truyện, đồng thời giúp bạn đọc hiểu được nội dung tư tưởng

của tác phẩm.

Mạch truyện được dẫn rất tự nhiên. Sau khi giặc tan, Trương Sinh trở về nhà, bế

đứa con nhỏ ra thăm mộ mẹ. Thằng bé quấy khóc, khi Sinh dỗ dành thì nó nói:

 "Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi

trước kia chỉ nín thin thít".

Thật chẳng khác gì một tiếng sét bất chợt. Lời con trẻ vô tình đã thổi bùng lên

ngọn lửa ghen tuông trong lòng người đàn ông đa nghi (tác giả đã nói đến từ đầu).

Nếu coi đây là một vở kịch thì lời nói của đứa con chính là nút thắt, mở ra mâu thuẫn

đồng thời ngay lập tức đẩy mâu thuẫn lên cao. Sau khi gạn hỏi con, nghe thằng bé nói

có một người đàn ông "đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng

ngồi...", mối nghi ngờ của Sinh đối với vợ đã đến mức không thể nào gỡ ra được.

Một lần nữa, chi tiết về tính hay ghen của Sinh phát huy tác dụng triệt để. Nó lí

giải diễn biến câu chuyện, đồng thời giải đáp những thắc mắc của bạn đọc một cách

hợp lí. Tại sao Sinh không chịu nghe lời người vợ thanh minh? Tại sao Sinh không

nói cho vợ biết lí do mình tức giận như thế? (Nếu Sinh nói ra thì ngay lập tức câu

chuyện sẽ sáng tỏ). Đó chính là hệ quả của tính đa nghi. Vì đa nghi nên Sinh không

thể tỉnh táo suy xét mọi việc. Cũng vì đa nghi nên lời nói (dù rất mơ hồ) của một đứa

bé cũng trở thành một bằng chứng "không thể chối cãi" rằng vợ chàng đã ngoại tình

khi chồng đi vắng. Sự vô lí đã trở nên hợp lí bởi sự kết hợp giữa hoàn cảnh và tính

cách nhân vật.

Không biết vì sao Sinh lại nghi oan nên người vợ không thể thanh minh. Để

chứng tỏ sự trong sạch của mình, nàng chỉ có mỗi cách duy nhất là tự vẫn. Vợ Sinh

chết mà mâu thuẫn kịch vẫn không được tháo gỡ, mối nghi ngờ trong lòng Sinh vẫn

còn nguyên đó.

Theo dõi mạch truyện từ đầu, bạn đọc tuy không một chút nghi ngờ phẩm hạnh

của người phụ nữ nhưng cũng không lí giải nổi chuyện gì đã xảy ra và vì sao đứa bé

lại nói như vậy. Đây cũng là một yếu tố chứng tỏ nghệ thuật kể chuyện của tác giả.

Thủ pháp "đầu cuối tương ứng" được vận dụng. Đứa trẻ ngây thơ là nguyên nhân dẫn

đến bi kịch thì cũng chính nó trở thành nhân tố tháo gỡ mâu thuẫn một cách tình cờ.

Sau khi vợ mất, một đêm kia, đứa trẻ lại nói:



 Cha Đản lại đến kia kìa!

Chàng hỏi đâu. Nó chỉ bóng chàng ở trên vách:

 Đây này!

Mâu thuẫn được tháo gỡ cũng bất ngờ như khi nó phát sinh. Đứa trẻ có biết đâu

rằng, nó đã gây ra một sự hiểu lầm khủng khiếp để rồi khi người chồng hiểu ra, hối

9



hận thì đã quá muộn. Ngay cả bạn đọc cũng phải sững sờ: sự thật giản đơn đến thế

mà cũng đủ đẩy một con người vào cảnh tuyệt vọng.

Ai là người có lỗi? Đứa trẻ đương nhiên là không vì nó vẫn còn quá nhỏ, chỉ biết

thắc mắc vì những lời nói đùa của mẹ. Vợ Sinh cũng không có lỗi vì nàng biết đâu

rằng những lời nói đùa với con để vợi nỗi nhớ chồng lại gây ra hậu quả đến thế! Có

trách chăng là trách Trương Sinh vì sự ghen tuông đến mất cả lí trí. Chi tiết này gợi

lên nhiều suy nghĩ: giá như không phải ở trong xã hội phong kiến trọng nam khinh

nữ, giá như người vợ có thể tự bảo vệ cho lẽ phải của mình thì nàng đã không phải

chọn cái chết thảm thương như vậy. Tính đa nghi của Sinh đã không gây nên hậu quả

xấu nếu như nó không được nuôi dưỡng trong một môi trường mà người phụ nữ luôn

luôn phải nhận phần thua thiệt về mình. ý nghĩa này của tác phẩm hầu như không

được tác giả trình bày trực tiếp nhưng qua hệ thống các biến cố, sự kiện được sắp xếp

hợp lí, đưa bạn đọc từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, tác giả đã thể hiện một cách tinh

tế sự cảm thông sâu sắc của mình đối với những số phận bất hạnh, đặc biệt là của

người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Nếu câu chuyện dừng lại ở đây thì có thể cho rằng nó đã được sáng tạo theo một

lỗi viết khá mới mẻ và hiện đại. Nhưng Nguyễn Dữ lại là người nổi tiếng với những

câu chuyện truyền kỳ. Hoang đường, kì ảo là những yếu tố không thể thiếu trong

những sáng tác thuộc loại này. Mặt khác, tuy là một tác giả của văn học viết trung đại

nhưng hẳn Nguyễn Dữ cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều từ tư tưởng "ở hiền gặp lành"

của nhân dân lao động. Bản thân ông cũng luôn đứng về phía nhân dân, đặc biệt là

những người phụ nữ có hoàn cảnh éo le, số phận oan nghiệt trong xã hội cũ. Bởi vậy,

tác giả đã tạo cho câu chuyện một lối kết thúc có hậu. Tuy không được hoá Phật để

rồi sống ở miền cực lạc như Thị Kính nhưng người phụ nữ trong truyện cũng được

thần rùa cứu thoát, tránh khỏi một cái chết thảm thương.

Phần cuối truyện còn được cài thêm nhiều yếu tố kì ảo khác nữa. Ví dụ như chi

tiết chàng Phan Lang trở thành ân nhân của rùa, sau lại được rùa đền ơn. Trên đường

chạy giặc, bị đắm thuyền, dạt lên đảo và được chính con rùa năm xưa cứu thoát. Đó

có thể coi là sự "đền ơn trả nghĩa"  những hành động rất phù hợp với lí tưởng thẩm

mĩ của nhân dân. Việc người phụ nữ trở về gặp chồng nhưng không đồng ý trở lại

chốn nhân gian có lẽ cũng nhằm khẳng định tư tưởng nhân nghĩa ấy. Mặc dù đã được

cứu thoát, được giải oan nhưng vì lời thề với vợ vua biển Nam Hải, nàng quyết không

vì hạnh phúc riêng mà bỏ qua tất cả. Những chi tiết đó càng chứng tỏ vẻ đẹp trong

tính cách của người phụ nữ, đồng thời cũng cho thấy thái độ ngưỡng mộ, ngợi ca của

tác giả đối với người phụ nữ trong câu chuyện này nói riêng và người phụ nữ Việt

Nam nói chung.



CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH

(Trích Vũ trung tuỳ bút - Phạm Đình Hổ)

I- GỢI Ý

10



1. Tác giả:

Tác giả của Vũ trung tuỳ bút là Phạm Đình Hổ (1768-1839), quê huyện Cẩm

Bình, tỉnh Hải Dương. Ông sinh trong một gia đình khoa bảng, từng dạy học ở nhiều

nơi.

Những tác phẩm mà Phạm Đình Hổ để lại gồm nhiều loại, nhiều lĩnh vực, từ biên

soạn cho đến khảo cứu (triết học, lịch sử, địa lí...), sáng tác văn học. Riêng sáng tác

văn học có: Vũ trung tuỳ bút, Tang thương ngẫu lục (viết chung với Nguyễn án),

Đông dã học ngôn thi tập, Tùng cúc liên mai tứ hữu, tất cả đều được viết bằng chữ

Hán.

2. Tác phẩm:

Tuy chỉ là một tác phẩm tuỳ bút với ý nghĩa là những ghi chép tản mạn nhưng Vũ

trung tuỳ bút lại có giá trị văn học lớn. Một mặt, tác phẩm phơi bày hiện thực xã hội

đen tối lúc bấy giờ đồng thời với nỗi thống khổ của nhân dân, mặt khác, tác phẩm thể

hiện tài năng của tác giả. Dù tác giả không chủ ý xoáy sâu vào một vấn đề nào nhưng

qua những từ ngữ gợi tả, qua những lời bình luận tưởng như rất bâng quơ, hiện thực

cuộc sống cứ hiển hiện chân thực, sống động trước mắt độc giả.

Trong bài văn này, phần đầu tác giả miêu tả cung cách ăn chơi xa hoa của đám

quan quân trong phủ chúa Trịnh, phần sau tác giả đề cập đến nỗi khổ sở của dân

chúng trước sự nhũng nhiễu của đám quan quân. Phần cuối, tác giả điểm qua một vài

ý về gia đình mình. Mọi chi tiết đều có tác dụng phơi bày sự mục rỗng của chính

quyền phong kiến Lê  Trịnh ở vào thời kì sắp suy tàn.

3. Thể loại:

Nói tuỳ bút là thể văn ghi chép sự việc một cách cụ thể, sinh động nhưng tuỳ

hứng không có nghĩa là bài văn được sắp xếp lộn xộn, không theo trật tự nào. Thực

ra, điều đó chỉ có nghĩa rằng văn tuỳ bút không phụ thuộc vào một khuôn mẫu cố

định nào đó (ví dụ như thơ Đường luật). Tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể, tác giả lựa

chọn, sắp xếp các chi tiết, sự kiện theo những trật tự nhất định nhằm làm nổi bật vấn

đề.

4. Tóm tắt:

Đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh miêu tả cuộc sống xa hoa ăn chơi xa

xỉ, không màng đến quốc gia đại sự, áp bức, bóc lột nhân dân,... của vua chúa, quan

lại phong kiến thời Thịnh Vương Trịnh Sâm.

II- GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

Khoảng cuối thế kỉ XVIII, tuy ngoài biên giới không có giặc ngoại xâm nhưng

trong nước lại vô cùng rối ren. Các thế lực phong kiến chia bè kéo cánh thao túng

quyền hành, vừa sát hại lẫn nhau vừa ra sức bóc lột của cải khiến đời sống nhân dân

vô cùng cực khổ. Ngoài Bắc, vua Lê chỉ là bù nhìn, quyền hành thực tế nằm cả trong

tay chúa Trịnh. Trịnh Sâm là người nổi tiếng hoang dâm vô độ. Cậy thế lấn át vua,

ông ta thả sức cho xây hàng loạt cung điện, đền đài nhằm phục vụ cho nhu cầu ăn

chơi hoang phí. Trong bài văn này, tuy tác giả không bộc lộ trực tiếp cảm xúc, thái độ

của mình nhưng qua hàng loạt chi tiết, qua những cảnh, những việc tưởng như được

trình bày hết sức ngẫu hứng của tác giả, bạn đọc có thể hiểu được phần nào cuộc sống

xa hoa, lãng phí của đám quan quân phong kiến thời bấy giờ, đồng thời cũng có thể

cảm nhận được ít nhiều sự phẫn nộ của tác giả trong hoàn cảnh ấy.

11



Một điểm rất đáng lưu ý khi đọc bài văn này chính là giọng điệu của tác giả  một

giọng điệu hầu như khách quan, không thể hiện một chút cảm xúc, thái độ nào. Khi

cần gọi tên đám quan quân trong phủ chúa, từ chúa Trịnh Sâm, các quan đại thần cho

đến bọn hoạn quan trong cung giám, tác giả luôn tỏ thái độ cung kính. Thủ pháp quen

thuộc thường được sử dụng là liệt kê, hết chúa đến quan, từ quan lớn đến quan bé, từ

sự việc này sang sự việc khác. Nếu không tinh ý, thật khó có thể xác định được mục

đích của tác giả khi viết đoạn này là gì.

Tuy nhiên, qua hàng loạt sự kiện tưởng chừng được liệt kê một cách tuỳ hứng, có

thể phát hiện ra những chi tiết giúp chúng ta hiểu được nội dung tư tưởng của bài.

Phần đầu viết về các cuộc dạo chơi của chúa Trịnh. Tác giả không tả cụ thể, cũng

không đưa ra một lời bình luận nào, nhưng các chi tiết, các sự kiện cứ như tự biết nói.

Chúng phô bày một cuộc sống phù phiếm, xa hoa với những cuộc dạo chơi liên miên,

rồi thì đình đài xây dựng hết cái này đến cái khác. Theo những cuộc du ngoạn của

chúa là đầy đủ các quan đại thần, binh lính, người phục dịch... Như thế đủ thấy những

sinh hoạt đó tốn kém đến mức nào.

Cướp bóc của cải là việc làm quen thuộc của quan quân thời bấy giờ. Nhân dân ta

từng có câu:

Con ơi nhớ lấy câu này

Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

Tác giả viết rất rõ: "Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái

thạch chậu hoa cây cảnh ở chốn nhân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một

thứ gì". Thật là sự cướp bóc trắng trợn của một vị chúa. Bất cứ thứ gì chúa muốn, kể

cả cây đa to đến hàng mấy trăm người khiêng cũng được đưa về phủ... Thật trớ trêu

khi người đứng đầu triều đình lại không hề biết tiếc sức người sức của, không biết

chăm lo cho nước, cho dân, chỉ biết cướp bóc, vơ vét để thoả lòng tham không đáy.

Liệt kê ra như vậy nhưng tác giả vẫn không đưa ra bất cứ một lời bình luận nào.

Thậm chí ông còn viết cả một đoạn văn dài như là ca ngợi vẻ đẹp của phủ chúa. Mặc

dù vậy, cách miêu tả của tác giả thật đặc biệt: vừa mới viết "hình núi non bộ trông

như bến bể đầu non", tác giả lại bổ sung: "Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim

kêu vượn hót vang khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ

tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường". Câu văn tuy đẹp, lời văn tưởng như

mạnh mẽ nhưng lại nhuốm màu u ám, như báo trước những điều chẳng lành.

Vua chúa đã vậy, bọn quan lại cũng tha hồ "đục nước béo cò". Vừa ăn cắp vừa la

làng, chúng không những lấy đi những thứ quý mà còn lập mưu vu vạ nhằm doạ nạt

để lấy tiền. Tác giả gọi chúng là "các cậu" ra vẻ trân trọng nhưng những hành vi của

chúng thì thật bỉ ổi, táng tận lương tâm. Tác giả không nói gì thì bạn đọc cũng biết:

một xã hội mà từ vua chúa đến quan lại đều không chăm lo gì đến việc nước, chỉ biết

tìm cách cướp đoạt của cải của nhân dân thì xã hội ấy hỗn loạn, bất an đến thế nào.

Trong phần cuối, tác giả đưa ra những chi tiết về nỗi khổ của nhân dân cũng như

của chính gia đình mình: "Các nhà giàu bị họ vu cho là giấu vật cung phụng, thường

phải bỏ của ra kêu van chí chết, có khi phải đập bỏ núi non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh

để tránh khỏi tai vạ,... Đó là cảnh chung, còn trong ngôi nhà của tác giả, những cây

cảnh đẹp cũng được sai chặt đi.

Đó là những chi tiết rất đắt giá. Tác giả không tả đám quan quân cướp bóc của cải

mà chỉ nói về cây cảnh. Việc nhân dân tự chặt cây cảnh, đập bỏ hòn non bộ đã cho

12



thấy một xã hội đầy những bất trắc, người dân phải phá bỏ chính tài sản của mình để

khỏi bị liên luỵ, phiền hà với đám quan lại xấu xa, tàn ác. Hệ quả được rút ra ở đây

là: đến những thứ phù phiếm như hòn non bộ hay cây cảnh mà chúng còn ngang

nhiên cướp đoạt như vậy thì những thứ quý, hẳn chúng cũng không bỏ qua một cơ

hội nào.

Bài tuỳ bút được trích tương đối ngắn, nhưng qua những chi tiết, những sự việc

được chọn lọc, được sắp xếp hợp lí, qua cách hành văn, sử dụng những câu văn đa

nghĩa của tác giả, bạn đọc hiểu được rất nhiều điều về thực trạng xã hội phong kiến

lúc bấy giờ.

HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

(Trích Hồi thứ mười bốn - Ngô gia văn phái)

I- GỢI Ý

1. Tác giả:

Tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô gia văn phái, một tập thể tác giả

thuộc dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà

Tây. Hai tác giả chính là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du.

- Ngô Thì Chí (1753-1788) là em ruột Ngô Thì Nhậm, từng làm quan dưới thời

Lê Chiêu Thống. Ông tuyệt đối trung thành với nhà Lê, từng chạy theo Lê Chiêu

Thống khi Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, dâng

Trung hưng sách bàn kế khôi phục nhà Lê. Sau đó ông được Lê Chiêu Thống cử đi

Lạng Sơn chiêu tập những kẻ lưu vong, lập nghĩa binh chống Tây Sơn, nhưng trên

đường đi ông bị bệnh, mất tại huyện Gia Bình (Bắc Ninh). Nhiều tài liệu nói ông viết

bảy hồi đầu của tác phẩm.

- Ngô Thì Du (1772-1840) là anh em chú bác ruột với Ngô Thì Chí, học giỏi nhưng

không đỗ đạt gì. Dưới triều Tây Sơn, ông ẩn mình ở vùng Kim Bảng (Hà Nam). Thời

nhà Nguyễn, ông ra làm quan, được bổ Đốc học Hải Dương, đến năm 1827 thì về nghỉ.

Ông là tác giả bảy hồi tiếp theo của Hoàng Lê nhất thống chí.

2. Tác phẩm:

Văn bản bài học được trích từ Hồi 14  tiểu thuyết chương hồi của Ngô gia văn

phái  tái hiện lại những diễn biến quan trọng trong cuộc đại phá quân Thanh của vua

Quang Trung  Nguyễn Huệ. Mặc dù là một tiểu thuyết lịch sử nhưng Hoàng Lê nhất

thống chí (biểu hiện cụ thể ở đoạn trích này) không chỉ ghi chép lại các sự việc, sự

kiện mà đã tái hiện khá sinh động hình ảnh của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự

thảm bại của quân xâm lược cùng với số phận bi đát của đám vua tôi nhà Lê phản

dân, hại nước.

3. Thể loại:

- Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn sách viết theo thể chí (một thể văn vừa có tính

chất văn học vừa có tính chất lịch sử), ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà

Lê, vào thời điểm anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ lãnh đạo nông dân Tây Sơn nổi

dậy khởi nghĩa, tiêu diệt nhà Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê. ý nghĩa tiêu đề của tác

phẩm là như thế nhưng sau khi vua Lê dành lại được quyền thế từ tay chúa Trịnh, rất

nhiều biến cố lịch sử đã diễn ra, trong đó có cuộc tấn công thần tốc của nghĩa quân

13



Tây Sơn, dưới sự thống lĩnh của vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) đánh tan hai

mươi vạn quân Thanh xâm lược. Tất cả đã được ghi chép lại một cách khá đầy đủ và

khách quan trong tác phẩm.

4. Tóm tắt:

Được tin báo quân Thanh vào Thăng Long, Bắc Bình Vương rất giận, liền họp các

tướng sĩ rồi tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, hạ lệnh xuất quân ra Bắc, thân hành cầm

quân, vừa đi vừa tuyển quân lính. Ngày ba mươi tháng chạp, đến núi Tam Điệp, vua

mở tiệc khao quân, hẹn mùng bảy năm mới vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng.

Bằng tài chỉ huy thao lược của Quang Trung, đạo quân của Tây Sơn tiến lên như vũ

bão, quân giặc thua chạy tán loạn. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên,

người không kịp mặc áo giáp, chuồn thẳng về biên giới phía Bắc, khiến tên vua bù

nhìn Lê Chiêu Thống cũng phải chạy tháo thân.

II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

Một nhân tố quan trọng cần phải xem xét trước hết trong văn bản này là tác giả.

Khi sáng tạo tác phẩm, tác giả không chỉ tái hiện hiện thực khách quan mà còn thể

hiện những tư tưởng, tình cảm, quan điểm chính trị, xã hội... của mình. Tác giả của

Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô gia văn phái  một nhóm tác giả rất trung thành với

nhà Lê. Nếu xét theo quan điểm phong kiến thì trong con mắt của Ngô gia, vua

Quang Trung là kẻ nghịch tặc. Thế nhưng trong tác phẩm, hình ảnh Quang Trung 

Nguyễn Huệ lại được miêu tả khá sắc nét với tài cầm quân "bách chiến bách thắng",

tính quyết đoán cùng nhiều phẩm chất tốt đẹp khác. Điều đó một phần bởi triều đại

nhà Lê khi đó đã quá suy yếu, mục nát, dù có là bề tôi trung thành đến mấy thì các tác

giả trong Ngô gia văn phái cũng khó có thể phủ nhận. Mặt khác, có thể chính tài năng

và đức độ của vua Quang Trung đã khiến cho các tác giả này thay đổi quan điểm của

mình, từ đó đã tái hiện lại các sự kiện, nhân vật,... một cách chân thực.

Các chi tiết, sự kiện trong phần đầu đoạn trích này cho thấy vua Quang Trung là

người rất mạnh mẽ, quyết đoán nhưng không hề độc đoán, chuyên quyền. Ông sẵn

sàng lắng nghe và làm theo ý kiến của thuộc hạ, lên ngôi vua để giữ lòng người rồi

mới xuất quân ra Bắc. Ngay khi đến Nghệ An, ông lại cho vời một người Cống sĩ đến

để hỏi về việc đánh quân Thanh như thế nào. Chi tiết này cho thấy Quang Trung luôn

quan tâm đến ý dân, lòng dân. Khi vị Cống sĩ nói: "Chúa công đi ra chuyến này,

không quá mười ngày, quân Thanh sẽ bị dẹp tan", ông "mừng lắm", không chỉ vì

người Cống sĩ nói đúng ý mình mà chủ yếu là vì chủ trương của ông, quyết tâm của

ông đã được nhân dân đồng tình ủng hộ. Bằng chứng là ngay sau đó ông cho tuyển

quân, "chưa mấy lúc, đã được hơn một vạn quân tinh nhuệ".

Cách ăn nói của vua Quang Trung cũng rất có sức thuyết phục, vừa khéo léo,

mềm mỏng vừa rất kiên quyết, hợp tình hợp lí. Khi nói với binh sĩ, ông đã cho họ

ngồi (một cử chỉ biểu lộ sự gần gũi mặc dù ông đã xưng vương), từng lời nói đều

giản dị, dễ hiểu. Sau khi lấy lịch sử từ các triều đại trước ra để cho binh sĩ thấy nỗi

khổ của nhân dân dưới ách thống trị ngoại bang, ông không quên tuyên bố sẽ trừng

phạt những kẻ phản bội, ăn ở hai lòng. Điều đó khiến cho binh sĩ thêm đồng lòng,

quyết tâm chống giặc.

Đó cũng là cách ứng xử của ông đối với các tướng lĩnh. Khi quân đến Tam Điệp,

hai tướng Sở và Lân mang gươm trên lưng đến xin chịu tội, ông thẳng thắn chỉ ra tội

của họ nhưng lại cho mọi người hiểu họ cũng là người đã có công lớn trong việc bảo

14



toàn được lực lượng, chờ đợi thời cơ  điều đó không những khiến cho quân ta tránh

được những thương vong vô ích mà còn làm cho giặc trở nên kiêu ngạo, chủ quan,

tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh chúng sau này.

Những lời nói, việc làm của vua Quang Trung thật hợp tình, hợp lí và trên hết là

hợp với lòng người. Vừa mềm dẻo vừa kiên quyết, xét đúng công, đúng tội, đặt lợi

ích của quốc gia và của dân chúng lên trên hết, ông đã khiến cho binh sĩ thêm cảm

phục, càng quyết tâm chống giặc. Đó là một yếu tố rất quan trọng tạo nên những

chiến thắng liên tiếp của quân Tây Sơn dưới sự thống lĩnh của vua Quang Trung.

Cuộc tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung thực sự chỉ có

thể diễn tả bằng từ "thần tốc". ở phần tiếp theo của đoạn trích, để diễn tả không khí

chiến trận rất khẩn trương, quyết liệt, các tác giả đã chú trọng nhiều hơn đến các sự

kiện nhưng không vì thế mà làm mờ nhạt hình ảnh tài năng của vị thống lĩnh. Lời hứa

chắc chắn trước lúc xuất quân của ông đã được đảm bảo bằng tài thao lược, xử trí hết

sức nhạy bén, mưu trí trong những tình huống cụ thể: đảm bảo bí mật hành quân,

nghi binh tấn công làng Hà Hồi, dùng ván phủ rơm ướt để tấn công đồn Ngọc Hồi,...

Tài dùng binh khôn khéo đó khiến cho quân Thanh hoàn toàn bị bất ngờ, khi chúng

biết được tin tức thì đã không thể chống cự lại được nữa, chỉ còn cách dẫm đạp lên

nhau mà chạy.

Phần cuối của đoạn trích chủ yếu diễn tả cuộc tháo chạy hỗn loạn, nhục nhã của

đám quan quân nhà Thanh. Ra đi "binh hùng tướng mạnh", vậy mà chưa đánh được

trận nào đã phải tan tác về nước. Rất có thể sau khi bại trận, quân số của Tôn Sĩ Nghị

(trước đó là hai mươi vạn) vẫn còn đông hơn quân của vua Quang Trung nhưng trước

sức tấn công như vũ bão của quân Tây Sơn, dưới sự chỉ huy của một vị tướng tài ba

và quyết đoán, chúng đã không còn hồn vía nào để nghĩ đến chuyện chống trả.

Trong đoạn này, giọng điệu của các tác giả tỏ ra vô cùng hả hê, vui sướng. Khi

miêu tả tài "xuất quỷ nhập thần" của quân Tây Sơn, các tác giả viết: "Thật là: "Tướng

ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên"... Ngược lại, khi viết về Tôn Sĩ Nghị thì:

"Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp...".

Đó không còn là giọng của một người ghi chép lại các sự kiện một cách khách quan

mà là giọng điệu sảng khoái của nhân dân, của dân tộc sau khi đã khiến cho bọn xâm

lược ngoại bang, vốn trước ngạo nghễ là thế, giờ đây phải rút chạy nhục nhã.

Đoạn nói về vua tôi nhà Lê càng khẳng định thái độ của các tác giả khi viết tác

phẩm này. Mặc dù luôn đề cao tư tưởng trung nghĩa nhưng trước sự nhu nhược, hèn

hạ của đám vua tôi nhà Lê, các tác giả vẫn thể hiện ít nhiều thái độ mỉa mai, châm

biếm. Số phận những kẻ phản dân, hại nước cũng thảm hại chẳng kém gì những kẻ

cậy đông, đem quân đi xâm lược nước khác. Đó là số phận chung mà lịch sử giành

cho lũ bán nước và lúc cướp nước.

Cuộc đại phá quân Thanh xâm lược là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu

tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Người làm nên kì tích ấy là Quang Trung 

Nguyễn Huệ, vị "anh hùng áo vải" vừa có tài thao lược vừa luôn hết lòng vì dân, vì

nước.

Trang sử hào hùng ấy đã được ghi lại bởi Ngô gia văn phái  nhóm tác giả đã vượt

qua những tư tưởng phong kiến cố hữu để tái hiện lại lịch sử một cách chân thực.

CHỊ EM THUÝ KIỀU

15



(Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)

I - GỢI Ý

1. Tác giả:

- Nguyễn Du (1765-1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê làng Tiên

Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc,

nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học. Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ,

từng giữ chức Tể tướng, anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản cũng từng làm quan

to dưới triều Lê - Trịnh.

Nguyễn Du sống trong một thời đại có nhiều biến động: cuối thế kỉ XVIII - nửa

đầu thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, bão táp phong

trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn đánh đổ các

tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân Thanh, rồi phong

trào Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn được thiết lập. Những biến cố đó đã in dấu ấn trong

sáng tác của Nguyễn Du, như chính trong Truyện Kiều ông viết: Trải qua một cuộc bể

dâu - Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Nguyễn Du từng trải một cuộc đời phiêu bạt: sống nhiều nơi trên đất Bắc, ở ẩn ở

Hà Tĩnh, làm quan dưới triều Nguyễn, đi sứ Trung Quốc. Vốn hiểu biết sâu rộng,

phong phú về cuộc sống của Nguyễn Du có phần do chính cuộc đời phiêu bạt, trải

nghiệm nhiều tạo thành.

2. Tác phẩm:

- Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn, cả bằng

chữ Hán và chữ Nôm. Thơ chữ Hán có ba tập, gồm 243 bài. Thơ chữ Nôm, xuất sắc

nhất là cuốn truyện Đoạn trường tân thanh, còn gọi là Truyện Kiều.

- "Có thể tìm thấy một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Du từ

thơ chữ Hán đến Truyện Kiều, Văn chiêu hồn. Nguyễn Du vĩ đại chính vì Nguyễn Du

là một nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa. Mặc dù xuất thân từ giai tầng quý tộc, nhưng

Nguyễn Du lăn lộn nhiều trong cuộc sống của quần chúng, đã lắng nghe được tâm

hồn và nguyện vọng của quần chúng, nhà thơ đã ý thức được những vấn đề trọng đại

của cuộc đời và, với một nghệ thuật tuyệt vời, ông đã làm cho những vấn đề trọng đại

ấy trở thành bức thiết hơn, da diết hơn, ám ảnh hơn trong tác phẩm của mình. Thơ

Nguyễn Du dù viết bằng chữ Nôm hay chữ Hán đều đạt đến trình độ điêu luyện.

Riêng những tác phẩm viết bằng chữ Nôm của ông, đặc biệt là Truyện Kiều là một

cống hiến to lớn của nhà thơ đối với sự phát triển của ngôn ngữ văn học dân tộc. Về

phương pháp sáng tác, qua Truyện Kiều, chúng ta thấy Nguyễn Du đã phá vỡ rất

nhiều nguyên tắc của mĩ học truyền thống, những yếu tố ước lệ tưởng tượng của nghệ

thuật phong kiến phương Đông để đi đến chủ nghĩa hiện thực. Nhưng do những giới

hạn về mặt lịch sử, cho nên mặc dù Nguyễn Du là một thiên tài vẫn không thể phá vỡ

được triệt để, vẫn chưa thể thực sự đến được với chủ nghĩa hiện thực. Cuối cùng,

Nguyễn Du vẫn là một nhà thơ dừng lại trước ngưỡng cửa của chủ nghĩa hiện thực.

(Nguyễn Lộc - Từ điển văn học, NXB Thế giới, 2005).

- Khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã mượn cốt truyện từ một cuốn tiểu thuyết

(Kim Vân Kiều truyện) của Thanh Tâm Tài Nhân, một nhà văn Trung Quốc. Khi sáng

tác, Nguyễn Du đã thay đổi, bổ sung nhiều yếu tố trong cốt truyện cho phù hợp với

hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.

16