loading
back to top
Upload tài liệu trên DOC24 và nhận giải thưởng hàng tuần Tìm hiểu thêm
Chú ý: Các vấn đề liên quan đến học tập, hãy để lại bình luận trực tiếp trên trang để được phản hồi nhanh hơn phần hỗ trợ trực tuyến của facebook. Xin cảm ơn!

Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX Lịch sử 10

Chia sẻ: trung123 | Ngày: 2016-10-28 11:06:43 | Trạng thái: Được duyệt

Chủ đề: giáo án lịch sử lớp 10   

28
Lượt xem
0
Tải về





Bên trên chỉ là 1 phần trích dẫn trong tài liệu để xem hết tài liệu vui lòng tải về máy. Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX Lịch sử 10

Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX Lịch sử 10

Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX Lịch sử 10




Tóm tắt nội dung

VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIXI. CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN NHÀ NGUYỄN1. Tình hình chính trị Kinh tếa. Nhà Nguyễn lập lại chế độ phong kiến tập quyềnNhân nội bộ Tây Sơn suy yếu, hằng năm đến mùa gió đông nam, Nguyễn Ánhđem thuỷ binh tiến ra lấn dần vùng đất của Tây Sơn.Sau khi chiếm được Quy Nhơn (tháng 1801), Nguyễn Ánh đánh thẳng ra PhúXuân. Nguyễn Quang Toản phải chạy ra Bắc Hà. Khoảng giữa năm 1802, Nguyễn Ánhhuy động nhiều cánh quân thuỷ bộ đồng thời tiến ra Bắc. Quân của Nguyễn Ánh lầnlượt đánh chiếm vùng đất từ Quảng Trị đến Nam Định rồi tiến thẳng về Thăng Long.Nguyễn Quan Toản vượt sông Nhị (sông Hồng) chạy lên mạn Bắc Giang thì bị bắt, chấmdứt triều Tây Sơn.Năm 1802, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu Gia Long, chọn Phú Xuân làm kinh đô, lậpra triều Nguyễn; năm 1806, lên ngôi Hoàng đế. Nhà nước quân chủ tập quyền được củngcố. Vua Nguyễn trực tiếp điều hành mọi việc hệ trọng trong nước, từ trung ương đến địaphương.Năm 1815, nhà Nguyễn ban hành bộ Hoàng triều luật lệ (còn gọi là luật Gia Long...

Nội dung tài liệu

VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIXI. CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN NHÀ NGUYỄN1. Tình hình chính trị Kinh tếa. Nhà Nguyễn lập lại chế độ phong kiến tập quyềnNhân nội bộ Tây Sơn suy yếu, hằng năm đến mùa gió đông nam, Nguyễn Ánhđem thuỷ binh tiến ra lấn dần vùng đất của Tây Sơn.Sau khi chiếm được Quy Nhơn (tháng 1801), Nguyễn Ánh đánh thẳng ra PhúXuân. Nguyễn Quang Toản phải chạy ra Bắc Hà. Khoảng giữa năm 1802, Nguyễn Ánhhuy động nhiều cánh quân thuỷ bộ đồng thời tiến ra Bắc. Quân của Nguyễn Ánh lầnlượt đánh chiếm vùng đất từ Quảng Trị đến Nam Định rồi tiến thẳng về Thăng Long.Nguyễn Quan Toản vượt sông Nhị (sông Hồng) chạy lên mạn Bắc Giang thì bị bắt, chấmdứt triều Tây Sơn.Năm 1802, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu Gia Long, chọn Phú Xuân làm kinh đô, lậpra triều Nguyễn; năm 1806, lên ngôi Hoàng đế. Nhà nước quân chủ tập quyền được củngcố. Vua Nguyễn trực tiếp điều hành mọi việc hệ trọng trong nước, từ trung ương đến địaphương.Năm 1815, nhà Nguyễn ban hành bộ Hoàng triều luật lệ (còn gọi là luật Gia Long -niên hiệu của Nguyễn Ánh).Các năm 1831 1832, nhà Nguyễn chia nước làm 30 tỉnh và phủ trực thuộc(Thừa Thiên). Đứng đầu mỗi tỉnh lớn là chức tổng đốc, còn các tỉnh vừa và nhỏ là chứctuần phủ.Quân đội nhà Nguyễn gồm nhiều binh chủng, kinh đô và các trấn, tỉnh, đều xâythành trì vững chắc. Một hệ thống trạm ngựa được thiết lập từ Nam Quan đến Cà Mau đểkịp thời chuyển tin tức giữa triều đình và các địa phương.Về quan hệ ngoại giao, các vua Nguyễn thuần phục nhà Thanh. Nhiều chính sáchcủa nhà Thanh được vua Nguyễn lấy làm mẫu mực trị nước. Đối với các nước phươngTây, nhà Nguyễn khước từ mọi tiếp xúc. Điều này càng thúc đẩy nước Pháp chuẩn bị việcxâm lược Việt Nam.b. Kinh tế dưới triều NguyễnNăm 1828, Nguyễn Công Trứ được cử làm Doanh điền sứ. Ông chiêu mộ dân lưuvong khai phá miền ven biển, lập nên các huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (NinhBình). Hàng trăm đồn điền được thành lập rải rác các tỉnh Nam Kì.Việc khai hoang đã tăng thêm diện tích canh tác. Nhưng ruộng đất bỏ hoang vẫncòn nhiều, vì nông dân bị địa chủ, cường hào cướp mất ruộng đất, phải lưu vong.Nhà Nguyễn đặt lại chế độ quân điền. Nông dân bị trói buộc vào ruộng đất để nộptô thuế và đi phu dịch cho nhà nước. Nhưng phần lớn ruộng đất đã tập trung vào tay địachủ. Do vậy, chế độ quân điền không còn tác dụng phát triển nông nghiệp và ổn định đờisống nhân dân.Ở các tỉnh phía bắc, việc sửa đắp đê không được chú trọng. Lụt lội, hạn hán xảy raluôn. Thời Tự Đức, tài chính thiếu hụt, nạn tham nhũng phổ biến, việc sửa đắp đê càngkhó khăn hơn. Có nơi như phủ Khoái Châu (Hưng Yên), đê vỡ 18 năm liền. Dân phiêután khắp nơi, trong dân gian có câu: "Oai oái như phủ Khoái xin cơm". Cả một vùngđồng bằng phì nhiêu biến thành bãi sậy.Về công thương nghiệp, theo đà phát triển của các thế kỉ trước, công thương nghiệpcó điều kiện phát triển thêm. Nhà Nguyễn thành lập nhiều xưởng đúc tiền, đúc súng,đóng tàu kinh đô Huế, Hà Nội, Gia Định… Thợ giỏi các địa phương được tập trung vềsản xuất trong các xưởng của nhà nước.Thợ đóng tàu nước Việt Nam có tay nghề khá cao, biết ứng dụng kĩ thuật châu Âu.Một người Mĩ đến Việt Nam năm 1820 nhận xét: "Người Việt Nam là những thợ đóng tàuthành thạo. Họ hoàn thành công trình với kĩ thuật hết sức chính xác" [cần dẫn nguồn].Ngành khai thác mỏ được mở rộng. Cả nước có hàng trăm mỏ được khai thác (cácmỏ vàng, bạc, đồng, kẽm, chì, diêm tiêu...). Nhưng cách khai thác còn lạc hậu, các mỏhoạt động thất thường và sa sút dần.Các nghề thủ công nông thôn và thành thị vẫn không ngừng phát triển. Nhiềulàng thủ công nổi tiếng khắp nước như làng Bát Tràng (Hà Nội), làng đúc đồng Ngụ Xã(Hà Nội), làng dệt lụa Vạn Phúc (Hà Tây), Bảo An (Quảng Nam)... Nhưng hoạt động thủcông nghiệp trong dân gian còn rất phân tán. Thợ thủ công phải nộp thuế sản phẩm nặngnề.Sang thế kỉ XIX, đất nước đã thống nhất, việc buôn bán có nhiều thuận lợi. Ngoàicác thành thị nổi tiếng truớc kia như Hà Nội, Phú Xuân (Huế), Gia Định, nhiều thị tứ mớixuất hiện rải rác các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ.Một thuyền trưởng người Pháp đến Hội An năm 1819 nhận xét: "Hội An chỉ có mộtđường phố nhưng rất dài. Nhà cửa đều xây bằng gạch. Gian trước bày bán hàng hoá, giansau là kho hành kín đáo. Hàng hoá vận chuyển đến Hội An rất thuận lợi nhờ có nhiềukênh đào" [cần dẫn nguồn].Theo Trịnh Hoài Đức, "Thành phố Mỉ Tho nhà ngói cột chạm, ghe thuyền tấp nập,phồn hoa huyên náo, thực là một nơi đại đô hội". Sa Đéc, "phố chợ thẳng bờ sông, nhàcất liền nhau kéo dài dặm. Dưới sông, nhà bè đậu thẳng hàng, bán đủ các thứ tơ lụaNam Bắc, dầu mỡ, than củi, tre mây, mắm muối. Trên bờ sông buôn bán tấp nập, hànghoá choá mắt, thật là một nơi phồn hoa danh thắng vậy".Dưới triều Nguyễn, thuyền buôn các nước Xiêm, Mã Lai, nhất là Trung Quốc,thường xuyên sang Việt Nam mua bán hàng hoá. Các vua Nguyễn cũng nhiều lần pháiquan sang Trung Quốc, Singapore, Philippines, Xiêm, Nam Dương bán gạo, đường, cáclâm sản... và mua về len dạ, đồ sứ, vũ khí...Tàu buôn phương Tây (Bồ Đào Nha, Pháp, Mĩ) cũng đến buôn bán các hải cảngViệt Nam. Nhưng nhà Nguyễn không cho người phương Tây mở cửa hàng. Họ chỉ đượcra vào một số cảng đã quy định.2. Các cuộc nổi dậy của nhân dâna. Đời sống nhân dân dưới triều NguyễnCác tầng lớp nhân dân sống khổ cực vì địa chủ hào lí chiếm đoạt ruộng đất, quanlại tham nhũng, tô thuế phu dịch nặng nề [cần dẫn nguồn]. Nạn dịch bệnh, nạn đói hoànhhành khắp nơi."Quan coi dân như kẻ thù, dân sợ quan như cọp, ngày đục tháng khoét của dân chođầy túi riêng". Năm 1828. viên quan Bắc Thành là Nguyễn Công Trứ dâng sớ tố cáo: cáihại quan là một hai phần, cái hại hào cường đến tám chín phần. Nó làm con cái người tathành mồ côi, vợ người ta thành goá phụ..., cứ công nhiên không kiêng sợ gì.b. Các cuộc nổi dậyHàng trăm cuộc nổi dậy từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi đến miền ngược đã bùng lênsuốt hơn nửa thế kỉ thống trị của nhà Nguyễn. Nổi bật hơn cả là các cuộc khởi nghĩa củaPhan Bá Vành, Nông Văn Vân, Lê Văn Khôi, Cao Bá Quát…c. Khởi nghĩa Phan Bá Vành (1821 1827)Phan Bá Vành người làng Minh Giám (Thái Bình), thuở nhỏ đi chăn trâu cho nhàđịa chủ. Năm 1821, ông kêu gọi nông dân trong vùng nổi dậy chống địa chủ, quan lại.Hoạt động của nghĩa quân lan khắp Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Quảng Yên.Phan Bá Vành lập căn cứ chính Trà Lũ (Nam Định), đánh nhau hàng chục trậnlớn với quân triều đình. Sử nhà Nguyễn ghi: "Khi lâm trận thì đàn bà con gái cũng cầmgiáo mác mà đánh".Năm 1827, nhà Nguyễn huy động hàng chục viên tướng đem hàng vạn quân baovậy, tấn công căn cứ Trà Lũ. Phan Bá Vành chống không nổi, định thoát ra biển, chẳngmay bị bắt. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp.d. Khởi nghĩa Nông Văn Vân (1833 1835)Nông Văn Vân là tù trưởng dân tộc Tày, giữ chức tri châu Bảo Lạc (Cao Bằng).Không chịu nổi sự chèn ép của triều đình nhà Nguyễn, Nông Văn Vân cùng một số tùtrưởng tập hợp dân chúng nổi dậy.Nông Văn Vân truyền hịch tố cáo vua Minh Mạng của nhà Nguyễn:"Mười lăm năm đức chính có chi !Kho hình luật vẽ nên hùm có cánhBa mươi tỉnhh nhân dân đều oánTiếng oan hào kêu dậy đất không lung !"Cuộc khởi nghĩa lan khắp miền núi Việt Bắc và một số lang người Mường, ngườiViệt trung du. Nhà Nguyễn đã hai lần cử những đạo quân lớn kéo lên đàn áp, nhưngkhông hiệu quả. Lần thứ ba (năm 1835), quân triều đình tấn công dữ dội từ nhiều phía vàbao vây đốt rừng. Nông Văn Vân chết trong rừng. Cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.e, Khởi nghĩa Lê Văn Khôi (1833 1835)Lê Văn Khôi là một thổ hào Cao Bằng, sau vào Nam. Tháng 1833, ông khởibinh chiếm thành Phiên An (Gia Định), tự xưng là Bình Nam Đại nguyên soái, giết viênquan Bạch Xuân Nguyên. Mấy tháng sau, cả sáu tỉnh Nam Kì đều theo ông khởi nghĩa.Sau đó, viên tướng Thái Công Triều làm phản, đầu hàng triều đình. Lê Văn Khôi bị côlập, lâm bệnh rồi qua đời (1834). Nghĩa quân đưa con trai ông mới tuổi lên thay. Tháng7 1835, cuộc khởi nghĩa bị đàn áp khốc liệt.f. Khởi nghĩa Cao Bá Quát (1854 1855)Cao Bá Quát hiệu là Chu Thần, tự là Mẫn Hiên, sinh năm 1808, quê làng PhúThị, tên nôm là làng Sủi, trước thuộc tỉnh Bắc Ninh, nay là ngoại thành Hà Nội, là mộtnhà nho nghèo, một nhà thơ lỗi lạc. Căm ghét chính sách cai trị của nhà Nguyễn, ôngcùng một số bè bạn tập hợp nông dân và các dân tộc miền trung du, định nổi dậy HàNội, Bắc Ninh. Nhưng kế hoạch bị lộ, nghĩa quân phải khởi sự sớm hơn dự tính.Đầu năm 1855, trong một trận chiến ác liệt vùng Sơn Tây (Hà Tây), Cao Bá Quáthi sinh. Nghĩa quân vẫn tiếp tục chiến đấu, đến cuối năm 1856, cuộc khởi nghĩa mới bịdập tắt.Phong trào đấu tranh của nông dân và nhân dân các dân tộc dưới triều Nguyễn là sựkế thừa truyền thống chống áp bức, cường quyền thế kỉ trước, nhất là thế kỉ XVIII.II. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HOÁ DÂN TỘC CUỐI THẾ KỈ XVIII -NỮA ĐẦU THẾ KỈ XIX1. Văn học Nghệ thuậta. Văn họcĐến cuối thế kỉ XVIII, nền văn học dân gian Việt Nam càng phát triển rực rỡdưới nhiều hình thức phong phú, từ tục ngữ, ca dao đến truyện thơ dài, truyện tiếu lâm.Trải qua nhiều thế kỉ, văn học viết bằng chữ Nôm phát triển đến đỉnh cao, tiêu biểu làTruyện Kiều của Nguyễn Du. Truyện Kiều là tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Du, làmrạng rỡ nền văn học dân tộc. Nội dung Truyện Kiều phản ánh những bất công và tội áctrong xã hội phong kiến. Bọn quan lại tham nhũng được tác giả vạch trần. Cuộc đấu tranhchống áp bức của nông dân được tác giả ngợi ca.Có thể kể thêm các tác phẩm nổi tiếng như Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâmkhúc, thơ của Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Nguyễn VănSiêu... Ngoài ra, có nhiều truyện Nôm khuyết danh. Hồ Xuân Hương là một tài nănghiếm có, một nhà thơ Nôm châm biếm nổi tiếng. Thơ của bà đả kích sâu cay vua quanphong kiến, bênh vực quyền sống của người phụ nữ.Văn học Việt Nam thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX phản ánh phong phú và sâusắc cuộc sống xã hội đương thời cùng với những thay đổi trong tâm tư, tình cảm vànguyện vọng của con người Việt Nam.b. Nghệ thuậtVăn nghệ dân gian phát triển phong phú. Nghệ thuật sân khấu tuồng, chèo phổ biếnkhắp nơi, nhất là các dịp hội làng. miền xuôi có các làng điệu quan họ, hát trống quân,hát lí, hát dặm, hát bội... miền núi, có hát lượn, hát khắp, hát xoan...Hàng loạt tranh dân gian xuất hiện, đậm đà bản sắc dân tộc và truyền thống yêunước (tranh Đánh vật, Chăn trâu thổi sáo, Bà Triệu...), trong đó nổi tiếng nhất là tranhĐông Hồ (Bắc Ninh).Các công trình kiến trúc nổi tiếng thời kì này là chùa tây Phương (Thạch Thất, HàTây), đình làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh). Sang thế kỉ XIX, có cung điện lăng tẩmcác vua Nguyễn Huế, Khuê văn Văn Miếu (Hà Nội)...Chùa Tây Phương là một công trình kiến trúc đặc sắc, là kiểu thức trang trí cungđình tương tự các lớp mái của các lầu, cửa của kinh thành tạo ra sự tôn vinh cao quý.Nghệ thuật tạc tượng, đúc đồng bấy giờ thể hiện tài năng bậc thầy của các nghệnhân nước Việt Nam. Chùa Tây Phương có 18 tượng vị tổ với những phong cách khácnhau. Trong cung điện Huế có đỉnh đồng lớn và nhiều công trình điêu khắc khác.Cố đô Huế xây dựng từ thời Gia Long (1802) và đạt tới quy mô hoàn chỉnh dướitriều Minh Mạng (1820 1840), được bổ sung các thời vua Nguyễn tiếp theo, thànhmột tổng thể kiến trúc độc đáo và đa dạng. Trung tâm là khu Đại Nội với gần 140 côngtrình mỗi công trình có chức năng riêng biệt, được xây cất và trang trí độc đáo: Ngọ Môn,điện Thái Hoà, sân Đại Triều, cung Diên Thọ, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, TriệuMiếu, Thái Bình Lâu, Duyệt Thị Đường... là những di tích nghệ thuật tiêu biểu còn lại.ngoài ra còn các lăng tẩm của các vua Nguyễn ngoại vi thành phố, mỗi lăng tẩm là mộtcông trình nghệ thuật hài hoà giữa kiến trúc và cảnh quan. Năm 1993, UNESSCOO đãcấp bằng công nhận cố đô Huế là di sản văn hoá thế giới.2. Giáo dục,khoa học Kĩ thuậta. Giáo dục, thi cửThời Tây Sơn, với tinh thần dân tộc quật cường, vua Quang Trung ra Chiếu lập họcchấn chỉnh lại việc học tập, thi cử, cho mở trường công các xã để con em nhân dân cóđiều kiện đi học; đưa chữ Nôm vào thi cử.Đến nửa đầu thế kỉ XIX thời Nguyễn, tài liệu học tập, nội dung thi cử không có gìthay đổi. Quốc tử giám được đặt Huế, lấy con em quan lại, thổ hào và những người họcgiỏi các địa phương vào học. Đáng chú là năm 1836, vua Minh Mạng cho thành lập"Tứ dịch quán" để dạy tiếng nước ngoài (tiếng Pháp, Xiêm).b. Sử học, địa lí, họcViệc biên soạn lịch sử, địa lí có những buớc tiến quan trọng. Triều Tây Sơn có bộĐại Việt sử kí tiền biên. Sử quán triều Nguyễn có Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyệnv.v… Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú là những tác giả tiêu biểu của thời kì này.Lê Quý Đôn là nhà bác học lớn nhất của thế kỉ XVIII. Các tác phẩm nổi tiếng củaông là Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Vân Đài loạn ngữ... PhanHuy Chú là tác giả bộ Lịch triều hiến chương loại chí.Có thể kể thêm một số công trình khác như Gia Định thành công chí của TrịnhHoài Đức, Nhất thống dư địa chí của Lê Quan Định… Trịnh Hoài Đức cùng với Lê QuanĐịnh và Ngô Nhân Tỉnh là ba tác giả lớn Gia Định ("Gia Định tam gia") và đều là họctrò của nhà giáo nổi tiếng Võ Trường Toản.Về học có Lê Hữu Trác (Hải Thượng Lãn Ông), là người thầy thuốc có uy tínlớn thế kỉ XVIII. Thông cảm sâu sắc với cuộc sống cực khổ của nhân dân, ông đã dàycông nghiên cứu các sách thuốc thời xưa, kết hợp với kinh nghiệm chữa bệnh truyềnthống nên đã phát hiện thêm công dụng của 305 vị thuốc nam và thu tập được 2854phương thuốc trị bệnh trong dân gian. Ông có cống hiến xuất sắc vào nền học và dượchọc dân tộc, đặc biệt là bộ sách Hải Thượng tông tâm lĩnh (66 quyển).c. Những thành tựu về kĩ thuậtTừ thế kỉ XVIII, một số kĩ thuật tiên tiến của phương Tây đã ảnh hưởng vào nướcViệt Nam. Thợ thủ công Nguyễn Văn Tú (ngưới Đàng Trong) học được nghề làm đồnghồ và kính thiên lí sau hai năm sống Hà Lan. Thợ thủ công nhà nước (thời Nguyễn) chếtạo được máy xẻ gỗ chạy bằng sức nước và thí nghiệm thành công tàu thuỷ chạy bằngmáy hơi nước.Trên cơ sở nghiên cứu tàu thuỷ của phương Tây, năm 1839 các thợ thủ công đãđóng xong một chiếc tàu thuỷ chạy bằng máy hơi nước. Khi cho tàu chạy trên sôngHương, "máy chuyển động linh hoạt, đi lại nhanh chóng".Những thành tựu kĩ thuật nói trên chứng tỏ tài năng sáng tạo của người thợ thủcông nước Việt Nam bấy giờ. Tiếc rằng những thành tựu như vậy chưa được nhà nướckhuyến khích và đưa vào ứng dụng hiệu quả hơn.3. Những sự kiện chính trong thời nhà Nguyễn1802: Nguyễn Ánh lên ngôi, triều Nguyễn được thành lập.1804: Gia Long đặt quốc hiệu là Việt Nam, kinh đô đóng Phú Xuân (Huế).1815: Ban hành bộ Hoàng triều luật lệ (còn gọi là bộ luật Gia Long).1820: Minh Mạng lên ngôi hoàng đế.1821 1827: Khởi nghĩa Phan Bá Vành.1831 1835: Nhà Nguyễn (thời Minh Mạng) sắp xếp lại các đơn vị hành chínhtrong cả nước.1833 1835: Khởi nghĩa Nông Văn Vân, Khởi nghĩa Lê Văn Khôi.1838: Quốc hiệu Đại Nam.1854 1856: Khởi nghĩa Cao Bá Quát.1858: Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng.Lịch sử Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới.Trên đây chỉ là phần trích dẫn 10 trang đầu của tài liệu và có thế hiển thị lỗi font, bạn muốn xem đầyđủ tài liệu gốc thì ấn vào nút Tải về phía dưới.

0 Bình luận



Bạn cần đăng nhập mới có thể viết bình luận




Nhận thông tin qua email


Cập nhật tài liệu hay và mới tại doc24.vn qua email



Hỗ trợ trực tuyến