loading
back to top
Upload tài liệu trên DOC24 và nhận giải thưởng hàng tuần Tìm hiểu thêm
Chú ý: Các vấn đề liên quan đến học tập, hãy để lại bình luận trực tiếp trên trang để được phản hồi nhanh hơn phần hỗ trợ trực tuyến của facebook. Xin cảm ơn!

Giáo án GDCD 12 bài Thực hiện pháp luật

Chia sẻ: trung123 | Ngày: 2016-10-29 13:56:46 | Trạng thái: Được duyệt

Chủ đề: giáo án giáo dục công dân lớp 12   

81
Lượt xem
0
Tải về





Bên trên chỉ là 1 phần trích dẫn trong tài liệu để xem hết tài liệu vui lòng tải về máy. Giáo án GDCD 12 bài Thực hiện pháp luật

Giáo án GDCD 12 bài Thực hiện pháp luật

Giáo án GDCD 12 bài Thực hiện pháp luật




Tóm tắt nội dung

Bài 2THỰC HIỆN PHÁP LUẬT( tiết )I. MỤC TIÊU BÀI HỌC:1. Về kiến thức Nêu được khái niệm thực hiện pháp luật các hình thức và các giai đoạn thựchiện pháp luật Hiểu được thế nào là vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí các loại vi phạmpháp luật và trách nhiệm pháp lí.2. Về kiõ năng Biết cách thực hiện pháp luật phù hợp với lứa tuổi.3. Về thái độ Có thái độ tôn trọng pháp luật Ủng hộ những hành vi thực hiện đúng pháp luật và phê phán những hành vi làmtrái quy định pháp luật .II. NỘI DUNG 1. Trọng tâm: Thực hiện pháp luật: Khái niệm thực hiện pháp luật. Các giai đoạn, các hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể pháp luật tiến hànhđể đưa pháp luật vào đời sống. Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí: Các dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật; khái niệm vi phạm pháp luật. Khái niệm trách nhiệm pháp lí. Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí tương ứng. 2. Một số kiến thức cần lưu ý:a) Khái niệm thực hiện pháp luật, các hình thức và các giai đoạn thực hiện phápluậtThực...

Nội dung tài liệu

Bài 2THỰC HIỆN PHÁP LUẬT( tiết )I. MỤC TIÊU BÀI HỌC:1. Về kiến thức Nêu được khái niệm thực hiện pháp luật các hình thức và các giai đoạn thựchiện pháp luật Hiểu được thế nào là vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí các loại vi phạmpháp luật và trách nhiệm pháp lí.2. Về kiõ năng Biết cách thực hiện pháp luật phù hợp với lứa tuổi.3. Về thái độ Có thái độ tôn trọng pháp luật Ủng hộ những hành vi thực hiện đúng pháp luật và phê phán những hành vi làmtrái quy định pháp luật .II. NỘI DUNG 1. Trọng tâm: Thực hiện pháp luật: Khái niệm thực hiện pháp luật. Các giai đoạn, các hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể pháp luật tiến hànhđể đưa pháp luật vào đời sống. Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí: Các dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật; khái niệm vi phạm pháp luật. Khái niệm trách nhiệm pháp lí. Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí tương ứng. 2. Một số kiến thức cần lưu ý:a) Khái niệm thực hiện pháp luật, các hình thức và các giai đoạn thực hiện phápluậtThực hiện pháp luật là giai đoạn tiếp theo trong đời sống của một văn bản phápluật sau khi được ban hành. Nếu như việc xây dựng và ban hành một quy phạmpháp luật hay cả một đạo luật là quá trình mô hình hóa các quy tắc xử sự có tínhđại diện cho những hành vi phổ biến trong xã hội theo hướng phù hợp với chícủa Nhà nước thì thực hiện pháp luật là quá trình có chiều hướng ngược lại, tức làcác mô hình xử sự đã được quy phạm hoá bằng quyền lực Nhà nước để áp trở lạinhư khuôn mẫu, như thước đo các hành vi cụ thể của những cá nhân, tổ chức khihọ tham gia vào các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật. Vì vậy, có thểcoi xây dựng pháp luật là quá trình đưa đời sống vào pháp luật còn thực hiện phápluật là đưa pháp luật trở lại với đời sống.- Các hình thức thực hiện pháp luật Hành vi hợp pháp của cá nhân, tổ chức rất đa dạng, được thực hiện qua nhiềuhình thức. Trong các tài liệu khoa học pháp lí hiện nay thường nói tới bốn hìnhthức thực hiện pháp luật, cụ thể là: Sử dụng pháp luật các cá nhân, tổ chức chủ động sử dụng các quyền, tự do củamình, không phụ thuộc vào chí của người khác. Đây là hình thức thực hiện cácquy phạm pháp luật quy định các quyền tự do, dân chủ của công dân, các quyềncủa tổ chức. Ví dụ: công dân chủ động sử dụng quyền tự do kinh doanh để tổ chứclàm ăn theo quy định của pháp luật.Thi hành pháp luật các cá nhân, tổ chức bằng hành động cụ thể chủ động thựchiện các nghĩa vụ những việc phải làm) theo quy định của pháp luật. Đây là hìnhthức thực hiện các quy phạm pháp luật quy định các nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức.Ví dụ: cá nhân, tổ chức kinh doanh chủ động thực hiện nghĩa vụ đóng thuế theoquy định của pháp luật. Tuân thủ pháp luật các cá nhân, tổ chức kiềm chế, không làm những việc vịpháp luật cấm. Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật có tính chấtcấm đoán. Ví dụ: cá nhân, tổ chức không kinh doanh những ngành nghề, mặt hàngbị cấm theo quy định của pháp luật như không sản xuất, buôn bán ma tuý, chất gâynghiện thuộc danh mục cấm…Aùp dụng pháp luật các cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quyền căn cứ vàopháp luật để ra các quyết định liên quan tới việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ cụthể của cá nhân, tổ chức. Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật quyđịnh phải có sự tham gia, can thiệp của Nhà nước trong quá trình cá nhân, tổ chứcthực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Ví dụ: cơ quan kế hoạch đầu tư các cấpphải thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh để họ có thể thực hiện quyền tự do kinhdoanh theo quy định của pháp luật. Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật trên thì hình thức sử dụng pháp luậtkhác với các hình thức con lại chỗ: chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặckhông thưcï hiện quyền được pháp luật cho phép theo chí của mình, chứ khôngbị ép buộc phải thực hiện.Bản thân chủ thể (cá nhân, tổ chức) thực hiện pháp luật có vai trò rất quan trọng.Giữa các hình thức thực hiện pháp luật có mối liên hệ lôgic phụ thuộc vào sự nhậnthức và hành động của các chủ thể. Ví dụ, nếu cá nhân, tổ chức không tự giác thihành hay tuân thủ pháp luật (tức là không tự giác thực hiện thực hiện các nghĩa vụ,không kiềm chế để không làm những việc bị cấm) thì cơ quan nhà nước sẽ phải ápdụng các biện pháp can thiệp như xử lí vi phạm, buộc các cá nhân, tổ chức phảithực hiện đúng các qui định của pháp luật hoặc phải gánh chịu những hậu quả bấtlợivì những vi phạm đó. Như vậy, từ những hình thức thực hiện pháp luật khôngcần sự tham gia của Nhà nước có thể sẽ dẫn đến những hình thức áp dụng phápluật Nhà nước phải can thiệp để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêmchỉnh. Đó chính là đặc trưng về tính quyền lực, tính bắt buộc chung của pháp luậtthể hiện trong quá trình thực hiện pháp luật.-Các giai đoạn thực hiện pháp luậtThực hiện pháp luật, như trên đã phân tích, là quá trình đưa pháp lụât vào cuộcsống. Qúa trình đó gồm nhiều giai đoạn với sự tham gia của các chủ thể khác nhau(cá nhân, tổ chức bao gồm cả cơ quan nhà nước) và đựơc thực hiện bằng nhữnghình thức khác nhau thông qua các quan hệ pháp luật cụ thể.-Giai đoạn xác lập quan hệ pháp luậtQuan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội đựơc điều chỉnh bằng pháp luật. Mộtquan hệ pháp luật được xác lập, thay đổi hay chấm dứt phụ thuộc vào các yếu tốnhư:+ Phải có quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ xã hội đó điều kiện tiênquyết);+ Các cá nhân, tổ chức tham gia quan hệ phải có năng lực chủ thể Năng lực chủthể gồm năng lực pháp luật khả năng của cá nhân, tổ chức có quyền hoặc nghĩavụ theo quy định của Nhà nứơc) và năng lực hành vi (khả năng của cá nhân tổchức bằng hành vi của chính mình để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụpháp lí).+ Phải có sự kiện pháp lí tức là phải có những sự kiện thực tế mà theo quy địnhcủa pháp luật gắn với sự xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật nhấtđịnh. Sự kiện pháp lí có thể là sự kiện tự nhiên (ví dụ: sự kiện một con người đựơcsinh ra là sự kiện pháp lí vì nó gắn với việc xuất hiện các quan hệ pháp luật mớinhư quan cha mẹ con, ông, bà cháu, quan hệ khai sinh giữa cha mẹ đứa trẻ vớicơ quan nhà nước…); cũng có thể là sự kiện xảy ra theo chí của cá nhân, tổ chức(ví dụ: sự kiện đăng ký kết hôn xảy ra theo chí của các bên có nguyên vọng,mong muốn kết hôn; sự kiện này làm phát sinh quan hệ pháp luật hôn nhân giữavợ và chồng).Giai đoạn xác lập quan hệ pháp luật có thể thực hiện bằng nhiều hình thức. Vídụ:+ Các cá nhân tổ chức tự thực hiện bằng hình thức sử dụng, thi hành, tuân thủpháp luật (ví dụ: trong sách giáo khoa, người lao động và người sử dụng lao độngsử dụng quyền của mình theo qui định của pháp luật để cùng nhau thoả thuận vềviệc làm, ký kết hợp đồng lao động, xác lập quan hệ lao động giữa các bên);+ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc áp dụng pháp luật để xác lậpquan hệ giữa cá nhân, tổ chức với Nhà nước hoặc giữa cá nhân, tổ chức với nhau.Ví dụ: Uỷ ban nhân dân xã, phường xác lập quan hệ pháp luật hôn nhân giữa haingười nam, nữ có nguyện vọng kết hôn bằng việc cấp giấy công nhận đăng kí kếthôn. Đây là kết quả của quá trình áp dụng pháp luật của Uỷ ban nhân dân xã,phường sau khi đã tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật nhưkiểm tra giấy tờ liên quan đến nhân thân của người nộp giấy đăng kí kết hôn, kiểmtra không có khiếu nại, tố cáo về việc vi phạm điều kiện kết hôn…- Giai đoạn các chủ thể quan hệ pháp luật thực hiện các quyền, nghĩa vụ củamình Đây chính là giai đoạn quan trọng và chủ yếu nhất để đưa các quy phạmpháp luật vào đời sống thông qua các hành vi hợp pháp của các chủ thể. Trong rấtnhiều trường hợp thực tế, nếu các chủ thể thực hiện đầy đủ, đúng đắn các quyền,nghĩa vụ của mình thì đây cũng là giai đoạn kết thúc của quá trình thực hiện phápluật. Giai đoạn xử lí vi phạm pháp luật, giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể củaquan hệ pháp luật đây không phải là giai đoạn bắt buộc phải có trong mọi quátrình thực hiện pháp luật mà chỉ trong những trường hợp của các chủ thể khôngthực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình hoặc khi phát sinh những sự kiệnpháp lí nhất định. Để đảm bảo cho pháp luật đựơc thực hiện đúng, để khôi phụccác quyền, tự do bị xâm phạm, các chủ thể của quan hệ pháp luật có thể sử dụngnhiều biện pháp, hình thức do pháp luật quy định để giải quyết như thương lượng,dàn xếp với nhau; thông qua người thứ ba để hoà giải các tranh chấp theo phươngthức thoả thuận; yêu cầu cơ quan nhà nứơc có thẩm quyền giải quyết. Trongtrường hợp cuối cùng, khi nhà nứơc can thiệp cũng tức là bắt đầu một quá trìnhthực hiện pháp luật mới quá trình áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nứơc cóthẩm quyền. Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp líNhư trên đã phân tích, mặc dù pháp luật là những khuôn mẫu có tính bắt buộcchung nhưng do những ích lợi, động cơ, điều kiện, hoàn cảnh khác nhau nên cácchủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật vẫn có thể có những cách ứng xử khácnhau hoặc là phù hợp với quy định của pháp luật hành vi hợp pháp) hoặc là tráipháp luật hành vi bất hợp pháp). Kết quả của các hành vi đó là pháp luật đựơcthực hiện hoặc pháp luật bị vi phạm. Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu cơ bản:- Là hành vi trái pháp luật, hành vi xác định của con người cụ thể (nếu là tổ chứcvi phạm pháp luật thì cũng phải thông qua hành vi của người đại diện cho tổ chứcđó) Năng lực trách nhiệm pháp lí của chủ thể hành vi trái pháp luật. Lỗi của chủ thể hành vi trái pháp luật. Lỗi thể hiện thái độ của chủ quan củachủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra.Lỗi có thể là lỗi cố chủ thể nhận thức rõ tính nguy hiểm của hành vi và hậu quảdo hành vi đó gây ra nhưng mong muốn hoặc cố để cho hậu quả xảy ra); hoặc làlỗi vô do quá tự tin nên không ngăn chặn được hậu quả xảy ra) lỗi vô do cẩuthả chủ thể, do cẩu thả nên không nhận thức được hậu quả nguy hiểm của hành vimặc dù có thể và cần phải nhận thức được). Nếu thiếu một trong ba dấu hiệu cơ bản này thì sẽ không có vi phạm pháp luật.Ví dụ: Nếu một người mới chỉ có suy nghĩ chống đối hay lẫn tránh pháp luậtnhưng chưa thể hiện thành hành vi thì chưa thể bị coi là vi phạm pháp luật. Mộtngười có hành vi trái pháp luật nhưng không có năng lực trách nhiệm pháp lí Vídụ: Một người bị mất trí thì hành vi đó cũng không phải là vi phạm pháp luật.Thậm chí, nếu một người có đầy đủ năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện hành vitrái pháp luật nhưng không có lỗi thì trong đại đa số trường hợp hành vi đó cũngvẫn không phải là vi phạm pháp luật. Ví dụ: Người gây thiệt hại về tài sản, sứckhoẻ cho người khác do phải phòng vệ chính đáng hoặc trong tình thế cấp thiết( thiên tai, hoả hoạn). Trách nhiệm pháp lí được xem xét dưới hai góc độ:- Là trách nhiệm, nghĩa vụ được giao cho cá nhân, tổ chức thực hiện. Đây lànghĩa tích cực, ví dụ: Các cơ quan văn hoá, thông tin đại chúng có trách nhiệmtuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong nước và nước ngoài các giá trị di sản vănhoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, góp phần nâng cao thức bảo vệ và pháthuy giá trị di sản văn hoá trong nhân dân” Điều 11, Luật Di sản văn hoá ). Là trách nhiệm của chủ thể vi phạm pháp luật phải thực hiện các nghĩa vụ vàgánh chịu hậu quả bất lợi do bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước.Trong bài này, trách nhiệm pháp lí được đề cập tới theo góc độ thứ hai, tráchnhiệm pháp lí gắn liền với vi phạm pháp luật và các biện pháp cưỡng chế nhànước.Mục đích của việc xác lập thừơng gọi là truy cứu) trách nhiệm pháp lí đối vớichủ thể vi phạm pháp luật là để nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cánhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triểnđúng hướng điều chỉnh của pháp luật, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật,giáo dục, cải tạo bản thân người vi phạm. Tuỳ theo tính chất của vi phạm pháp luật thường xác định các loại trách nhiệmpháp lí khác nhau: Trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội). Phạm tội là hành vi viphạm pháp luật nghiêm trọng nhất nên trách nhiệm hình sự cũng là trách nhiệmnghiêm khắc nhất và chỉ do một cơ quan duy nhất xem xét, quyết định áp dụng, đólà Toà án.Trách nhiệm hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền ápdụng với các chủ thể vi phạm hành chính.Trách nhiệm dân sự áp dụng đối với người vi phạm pháp luật trong lĩnh vực dânsự.Trách nhiệm kỉ luật là trách nhiệm do cơ quan, tổ chức áp dụng đối với với cánbộ, công chức, viên chức của mình do vi phạm các quy định về kỉ luật lao động vàcông vụ nhà nước với các hình thức: cảnh cáo, hạ bậc lương, chuyển công táckhác, buộc thôi việc…III. PHƯƠNG PHÁP Thuyết trình, vấn đáp, thảo luận nhóm, tạo tình huống, trực quan,…IV. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC Tranh, ảnh, sơ đồ, giấy khổ to.- Có thể sử dụng vi tính, máy chiếu.V. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP 1. Ổn định tổ chức lớp 2. Kiểm tra bài cũ 3. Giảng bài mới Pháp luật là phương tiện để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Tuy nhiên do điều kiện khách quan và chủ quan mà việc thực hiện pháp luật của côngdân có thể đúng hoặc có thể sai (vi phạm pháp luật). Vậy, Nhà nước với tư cách là chủthể làm ra pháp luật và dùng pháp luật làm phương tiện quản lí xã hội sẽ làm gì để bảođảm quá trình đưa pháp luật vào đời sống xã hội đạt hiệu quả và xử lí các vi phạmpháp luật nảy sinh như thế nào?Đó là nộidung bài 2Phần làm việc của Thầy và Trò Nội dung chính của bài họcTiết 1: Đơn vị kiến thức Khái niệm các hình thức và các giai đoạnthực hiện pháp luật Mức độ kiến thức:HS nêu được các nội dung cơ bản:- Khái niệm thực hiện pháp luật.- Thực hiện pháp luật là quá trình thường xuyêntrong cuộc sống của các cá nhân, tổ chức, cơquan, bao gồm hình thức cụ thể: sử dụngpháp luật, thi hành pháp luật, tuân thủ phápluật, áp dụng pháp luật.- Hai giai đoạn của quá trình thực hiện phápluật.a Cách thực hiện: Khái niệm thực hiện pháp luậtGV yêu cầu HS đọc tình huống đoạn Cùng 1. Khái niệm các hình thức và các giai đoạn thực hiện pháp luật a) Khái niệm thực hiện pháp luật Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định củaquan sát trong SGK, sau đó hướng dẫn HS khaithác vấn đề bằng cách đưa ra các câu hỏi sau: Trong tình huống 1: Chi tiết nào trong tìnhhuống thể hiện hành động thực hiện Luật Giaothông đường bộ một cáh có thức (tự giác), cómục đích? Sự tự giác đã đem lại tác dụng nhưthế nào? Trong tình huống 2: Để xử lí thanh niên viphạm, cảnh sát giao thông đã làm gì? (áp dụngpháp luật: xử phạt hành chính) Mục đích của việc xử phạt đó là gì? (Răn đehành vi vi phạm pháp luật và giáo dục hành vithực hiện đúng pháp luật cho thanh niên).Từ những câu trả lời của HS, GV tổng kết và điđến khái niệm trong SGK.GV giảng mở rộng:Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của cánhân, cơ quan, tổ chức. Vậy, Thế nào là hành vihợp pháp ?Hành vi hợp pháp là hành vi không trái, khôngvượt quá phạm vi các quy định của pháp luậtmà phù hợp với các quy định của pháp luật, cólợi cho Nhà nước, xã hội và công dân :-Làm những việc mà pháp luật cho phép làm.-Làm những việc mà pháp luật quy định phảilàm.-Không làm những việc mà pháp luật cấm.Trong hệ thống pháp luật của quốc gia, có rấtnhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau, vớinhững cách thực thực hiện khác nhau. Có thểđó là cách xử sự chủ động (hành động) Làmnhững việc mà pháp luật quy định được làmhoặc nghĩa vụ phải làm có thể đó là cách xửsự thụ động (không hành động) Kiềm chế pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.không làm những điều mà pháp luật cấm. Các hình thức thực hiện pháp luật.GV kẻ bảng: Các hình thức thực hiện pháp luật.Chia lớp thành nhóm, đánh số thứ tự và phâncông nhiệm vụ từng nhóm tương ứng với thứ tựcác hình thức thực hiện pháp luật trong SGK .Yêu cầu mỗi nhóm trong thời gian thảo luận 3phút phải nêu ra nội dung và ví dụ minh hoạcho hình thức thực hiện mà mình được giao.Sau đó, lần lượt các nhóm lên điền vào bảng doGV kẻ sẵn.GV kẻ sẵn một bảng tổng hợp nhà để củng cốcho HS hiểu hình thức thực hiện pháp luật.Các ví dụ minh hoạ:+ Sử dụng pháp luật Ví dụ Công dân gửi đơn khiếu nại Giám đốcCông ty khi bị kỷ luật cảnh cáo nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.Trong trường hợp này, công dân đã sử dụngquyền khiếu nại của mình theo quy định củapháp luật, tức là công dân sử dụng pháp luật. Đặc điểm của hình thức sử dụng pháp luật :Chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc khôngthực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ýchí của mình mà không bị ép buộc phải thựchiện.+ Thi hành pháp luật (xử sự tích cực)Ví dụ Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xâydựng hệ thống kết cấu hạ tầng thu gom và xử lýchất thải theo tiêu chuẩn môi trường. Đây làviệc làm của cơ sở sản xuất, kinh doanh chủđộng thực hiện công việc mà mình phải làmtheo quy định tại khoản Điều 37 Luật Bảo vệmôi trường năm 2005. Thông qua việc làm này, b) Các hình thức thực hiện pháp luật Sử dụng pháp luật Các cá nhân, tổ chức sử dụng đúng đắn các quyền của mình làm những gì mà pháp luật cho phép làm.cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã thi hànhpháp luật về bảo vệ môi trường.+ Tuân thủ pháp luật (xử sự thụ động)Ví dụ Không tự tiện chặt cây phá rừng khôngsăn bắt động vật quý hiếm không khai thác,đánh bắt cá sông, biển bằng phương tiện,công cụ có tính huỷ diệt (ví dụ mìn, chấtnổ,...).+ Áp dụng pháp luật Thứ nhất, cơ quan, công chức nhà nước cóthẩm quyền ban hành các quyết định cụ thể. Ví dụ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyếtđịnh về điều chuyển cán bộ từ Sở Giáo dục vàĐào tạo sang Sở Văn hoá Thông tin. Trongtrường hợp này, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnhđã áp dụng pháp luật về cán bộ, công chức. Thứ hai, cơ quan nhà nước ra quyết định xử lýngười vi phạm pháp luật hoặc giải quyết tranhchấp giữa các cá nhân, tổ chức. Ví dụ Toà án ra quyết định tuyên phạt cải tạokhông giam giữ và yêu cầu bồi thường thiệt hạingười đốt rừng, phá rừng trái phép Cảnh sátgiao thông xử phạt người không đội mũ bảohiểm là 100.000 đồng. Để khắc sâu kiến thức, phát triển tư duy HS,GV yêu cầu các em phân tích điểm giống nhauvà khác nhau giữa hình thức thực hiện phápluật.GV lưu ý:+ Giống nhau: Đều là những hoạt động có mụcđích nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, trởthành những hành vi hợp pháp của người thựchiện.+ Khác nhau: Trong hình thức sử dụng pháp Thi hành pháp luật Các cá nhân tổ chức thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ, chủ động làm những gì mà pháp luật quy định phải làm. Tuân thủ pháp luật Các cá nhân tổ chức kiềm chế để không làm những điều mà pháp luật cấm. Áp dụng pháp luật Các cơ quan, công chứcnhà nước có thẩm quyền căn cứ vào pháp luậtđể ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứthoặc thay đổi việc thực hiện các quyền nghĩavụ cụ thể của cá nhân, tổ chức.Trên đây chỉ là phần trích dẫn 10 trang đầu của tài liệu và có thế hiển thị lỗi font, bạn muốn xem đầyđủ tài liệu gốc thì ấn vào nút Tải về phía dưới.

0 Bình luận



Bạn cần đăng nhập mới có thể viết bình luận

Hỗ trợ trực tuyến