loading
back to top
Upload tài liệu trên DOC24 và nhận giải thưởng hàng tuần Tìm hiểu thêm
Chú ý: Các vấn đề liên quan đến học tập, hãy để lại bình luận trực tiếp trên trang để được phản hồi nhanh hơn phần hỗ trợ trực tuyến của facebook. Xin cảm ơn!

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Lịch sử lần 2 năm 2015 trường THPT Hai Bà Trưng, Thừa Thiên Huế có đáp án

Chia sẻ: letrunghieu | Ngày: 2016-03-25 08:58:28 | Trạng thái: Được duyệt

Chủ đề: đề thi và đáp án lịch sử   

272
Lượt xem
4
Tải về





Bên trên chỉ là 1 phần trích dẫn trong tài liệu để xem hết tài liệu vui lòng tải về máy. Đề thi thử THPT Quốc gia môn Lịch sử lần 2 năm 2015 trường THPT Hai Bà Trưng, Thừa Thiên Huế có đáp án

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Lịch sử lần 2 năm 2015 trường THPT Hai Bà Trưng, Thừa Thiên Huế có đáp án

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Lịch sử lần 2 năm 2015 trường THPT Hai Bà Trưng, Thừa Thiên Huế có đáp án




Tóm tắt nội dung
SỞ GD&ĐT THỪA THIÊN HUẾ ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN II NĂM HỌC 2014 2015 TRƯỜNG THPT HAI BÀ TRƯNG Môn: Lịch Sử KHỐI Thời gian làm bài: 180 phút (Không kể thời gian giao đề) Câu 1: (2 điểm) Những biểu hiện chủ yếu của xu thế toàn cầu hóa ngày nay. Toàn cầu hóa tạo ra thời cơ và thách thức gì đối với nước ta? Câu 2: (3 điểm) Trình bày quá trình vận động và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1929 đến 1930. Câu 3: (1 điểm) Dựa vào điều kiện lịch sử nào mà Đảng ta phát động Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945? Câu 4: (4 điểm) Viết về nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 1975). Sách giáo khoa lịch sử lớp 12 (Nhà xuất bản giáo dục, trang 197) có đoạn: “Cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước thắng lợi nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ đúng đắn, sáng tạo, đường lối tiến hành đồng thời cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam, với phương thức...
Nội dung tài liệu
SỞ GD&ĐT THỪA THIÊN HUẾ ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC LẦN II NĂM HỌC 2014 2015 TRƯỜNG THPT HAI BÀ TRƯNG Môn: Lịch Sử KHỐI Thời gian làm bài: 180 phút (Không kể thời gian giao đề) Câu 1: (2 điểm) Những biểu hiện chủ yếu của xu thế toàn cầu hóa ngày nay. Toàn cầu hóa tạo ra thời cơ và thách thức gì đối với nước ta? Câu 2: (3 điểm) Trình bày quá trình vận động và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1929 đến 1930. Câu 3: (1 điểm) Dựa vào điều kiện lịch sử nào mà Đảng ta phát động Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945? Câu 4: (4 điểm) Viết về nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 1975). Sách giáo khoa lịch sử lớp 12 (Nhà xuất bản giáo dục, trang 197) có đoạn: “Cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước thắng lợi nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ đúng đắn, sáng tạo, đường lối tiến hành đồng thời cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam, với phương thức đấu tranh linh hoạt, kết hợp đấu tranh quân sự chính trị ngoại giao.” Bằng những kiến thức có chọn lọc đã được học về cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước giai đoạn 1954 1972. Anh (chị) hãy làm rõ đoạn viết trên. HẾT Lưu ý: Thí sinh không sử dụng tài liệu, giám thị không giải thích gì thêm.ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM (Đáp án này gồm trang) Câu 1: (3 điểm) Những biểu hiện của xu thế toàn cầu hóa ngày nay: Sự phát triển nhanh chóng của thương mại quốc tế. (0.5đ) Sự phát triển và những tác động to lớn của các công ti xuyên quốc gia. (0.5đ) Sự sáp nhập và hợp nhất các công ti thành những tập đoàn lớn. (0.5đ) Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực (Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, Ngân hàng thế giới WB, Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Liên minh châu Âu EU, Hiệp ước thương mại tự do Bắc Mĩ NAFTA, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ASEAN...) (0.5đ) Toàn cầu hóa tạo ra thời cơ và thách thức đối với nước ta hiện nay: Thời cơ: Việt Nam có thể khai thác các nguồn vốn đầu tư, kĩ thuật công nghệ và kinh nghiệm quản lí từ bên ngoài, nhất là các tiến bộ khoa học kĩ thuật, để có thể “đi tắt đón đầu” rút ngắn thời gian xây dựng và phát triển đất nước… (0.5đ) Thách thức: Việt Nam cần nhận thức đầy đủ tính tất yếu của toàn cầu hóa và tìm con đường, cách thức hợp lí nhất trong quá trình hội nhập quốc tế phát huy thế mạnh; hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro, bất lợi và cả sai lầm để có những bước đi thích hợp, kịp thời; Nước ta phát triển từ điểm xuất phát thấp về kinh tế, trình độ dân trí thấp, hạn chế nhiều về nguồn nhân lực chất lượng cao. (0.25đ) Sự cạnh tranh quyết liệt của thị trường thế giới và các quan hệ kinh tế còn nhiều bất bình đẳng, gây nhiều thiệt hại đối với các nước đang phát triển; Vấn đề sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay nợ; Vấn đề giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại… Những nguy cơ về nhiễm môi trường (khí hậu, nguồn nước, đất đai, xử lí chất thải…) (0.25đ) Câu 2: (3 điểm) Trình bày quá trình vận động và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1929 đến 1930: Năm 1929, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân yêu nước ngày càng phát triển, kết thành làn sóng dân tộc dân chủ mạnh mẽ. Tháng 3/1929, một số hội viên tiên tiến của HVNCMTN họp tại số nhà 5D, phố Hàm Long (Hà Nội), lập ra chi bộ cộng sản đầu tiên Việt Nam, gồm đảng viên. Chi bộ đã mở rộng cuộc vận động thành lập một đảng cộng sản nhằm thay thế cho HVNCMTN. (0.5đ) 5/1929, tại Đại hội lần thứ nhất của HVNCMTN, đoàn đại biểu Bắc Kì đặt vấn đề thành lập ngay một đảng cộng sản, song không được chấp nhận nên Đoàn bỏ Đại hội về nước. 17/6/1929, đại biểu các tổ chức cộng sản Bắc Kì quyết định thành lập Đông Dương cộng sản đảng. (0.25đ) 8/1929, các cán bộ tiên tiến trong Tổng bộ và Kì bộ HVNCMTN Nam Kì đã thành lập An Nam cộng sản đảng. (0.25đ) 9/1929, những người cộng sản tiên tiến trong Đảng Tân Việt thành lập Đông Dương cộng sản liên đoàn, hoạt động Trung Kì. (0.25đ) Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản năm 1929 là một xu thế khách quan của cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản, chuẩn bị trực tiếp cho sự ra đời của một chính đảng vô sản Việt Nam. (0.5đ) Cuối năm 1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh, trong đó giai cấp công nhân thực sự trở thành lực lượng tiên phong. Ba tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời năm 1929 hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, làm cho phong trào cách mạng trong nước có nguy cơ bị chia rẽ lớn. Yêu cầu đặt ra là phải thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất. (0.5đ) 6/1/1930, Nguyễn Ái Quốc với cương vị là phái viên của Quốc tế Cộng sản đã chủ động triệu tập các đại biểu của các tổ chức cộng sản đến Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) để bàn việc hợp nhất. (0.25đ) Hội nghị đã thảo luận và nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Đó là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử của một đại hội thành lập Đảng. (0.5đ) Câu 3: (1 điểm) Những điều kiện lịch sử mà Đảng ta phát động Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945: Điều kiện khách quan: Đầu tháng 8/1945, quân Đồng minh tiến công mạnh mẽ vào các vị trí của quân Nhật châu Thái Bình Dương. Ngày và 9/8/1945, Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima và Nagaxaki của Nhật Bản. Ngày 9/8/1945, Liên Xô mở màn chiến dịch tiêu diệt đội quân Quan Đông của Nhật Bản Đông Bắc Trung Quốc. (0.25đ) Ngày 15/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật Đông Dương rệu rã. Chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang lo sợ. Điệu kiện khách quan có lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. (0.25đ) Điều kiện chủ quan: Đảng đã chuẩn bị chu đáo, nhân dân sẵn sàng nổi dậy khi có lệnh khởi nghĩa. (0.25đ) Ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, ban bố “Quân lệnh số 1”, phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Từ ngày 14 đến ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp Tân Trào (Tuyên Quang), thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa và quyết định những vấn đề đối nội, đối ngoại sau khi giành được chính quyền. Tiếp đó, từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945, Đại hội Quốc dân Tân Trào tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. (0.25đ) Câu 4: (4 điểm) Đây là dạng đề nâng cao nên thí sinh cần có phương pháp làm bài theo hướng có lí luận kết hợp với các sự kiện cơ bản để minh họa. Cụ thể cần lập luận được: mỗi giai đoạn, do tình hình thay đổi nên Đảng kịp thời đề ra nhiệm vụ mới, có những quyết định mới như: Từ nửa cuối 1954, Đảng đã chủ trương chuyển từ đấu tranh vũ trang chống Pháp sang đấu tranh chính trị chống Mĩ Diệm, đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, bảo vệ hòa bình, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng. (0.25đ)- Trong những năm 1957 1959, cách mạng miền Nam gặp muôn vàn khó khăn do chính sách đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm, đòi hỏi phải có một biện pháp quyết liệt để cách mạng vượt qua khó khăn, thử thách. Tại hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 (1/1959), Đảng đã kịp thời quyết định để nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng đánh đổ chính quyền Mĩ Diệm… (0.5đ) Sau phong trào “Đồng Khởi”, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (22/12/1960), tập hợp và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân yêu nước miền Nam chống lại chính quyền Mĩ Diệm. (0.25đ) Giữa lúc cách mạng hai miền Nam, Bắc có những bước tiến quan trọng, Đảng tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/1960). Đại hội đã đề ra đường lối rất cụ thể về nhiệm vụ, vị trí, vai trò của cách mạng cả nước và từng miền: cách mạng XHCN miền Bắc, cách mạng DTDCND miền Nam. Cách mạng hai miền có mối quan hệ gắn bó mật thiết và tác động lẫn nhau nhằm hoàn thành cách mạng DTDCND trong cả nước, thực hiện hòa bình, thống nhất đất nước. Đó là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước.(0.5đ) Đến 1964, quân và dân ta miền Nam đã giành nhiều thắng lợi trên các mặt trận, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ có nguy cơ bị phá sản. Đảng ta đã chủ động cho mở chiến dịch tiến công địch miền Đông Nam Bộ trong đông xuân 1964 1965 với các trận Bình Giã (Bà Rịa), An Lão (Bình Định), Ba Gia (Quảng Ngãi), Đồng Xoài (Bình Phước)… làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ. (0.25đ) Bước vào mùa xuân năm 1968, xuất phát từ nhận định so sánh lực lượng đã thay đổi có lợi cho ta sau hai mùa khô, đồng thời lợi dụng mâu thuẫn Mĩ trong năm bầu cử tổng thống (1968), Đảng chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, trọng tâm là các đô thị. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có nghĩa hết sức to lớn, buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược (tức là thừa nhận thất bại của “Chiến tranh cục bộ”), chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, đặc biệt chấp nhận đến đàm phán Paris để bàn về chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Ta mở ra mặt trận đấu tranh ngoại giao đồng thời tạo ra bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước.(0.5đ) Trong chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, “Đông Dương hóa chiến tranh”, Đảng đã đưa ra nhiều chủ trương, quyết định đún đắn: Trên mặt trận chính trị: 6/6/1969, Đảng chủ trương thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Vừa mới ra đời, Chính phủ cách mạng lâm thời đã được 23 nước công nhận, trong đó có 21 nước đặt quan hệ ngoại giao. Khẳng định sự lớn mạnh của cách mạng miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao ngày càng phát triển. (0.25đ) Trên mặt trận ngoại giao: 4/1970, Hội nghị cấp cao ba nước Việt Nam Lào Campuchia họp biểu thị quyết tâm của nhân dân ba nước đoàn kết chiến đấu chống Mĩ, làm thất bại âm mưu chia rẽ sự đoàn kết ba nước Đông Dương của đế quốc Mĩ. (0.25đ) Đến năm 1972, khi quân và dân ta đang giành nhiều thắng lợi trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, “Đông Dương hóa chiến tranh” của Mĩ, ngày 30/3/1972, Đảng ta quyết định mở cuộc Tiến công chiến lược năm 1972. Cuộc Tiến công chiến lược này giáng một đòn nặng nề vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc Mĩ phải tuyên bố “Mĩ hóa” trởlại chiến tranh xâm lược, tức là thừa nhận sự thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. (0.5đ) Để giành thắng lợi quyết định trên bàn đàm phán Hội nghị Paris, Đảng đã lãnh đạo quân dân miền Bắc quyết tâm đập tan của tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 (từ ngày 18 đến hết ngày 29/12/1972). Thắng lợi này được coi là trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mĩ phải tuyên bố ngừng hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc và kí Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình Việt Nam. (0.5đ) Với những sự kiện tiêu biểu nêu trên, chúng ta có thể khẳng định rằng nguyên nhân quyết định nhất để “cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước thắng lợi nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ đúng đắn, sáng tạo, đường lối tiến hành đồng thời cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam, với phương thức đấu tranh linh hoạt, kết hợp đấu tranh quân sự chính trị ngoại giao.” (0.25đ)

0 Bình luận



Bạn cần đăng nhập mới có thể viết bình luận




Nhận thông tin qua email


Cập nhật tài liệu hay và mới tại doc24.vn qua email



Hỗ trợ trực tuyến